Mùng 8 tháng 3 giữa ngã ba Bồng Lộc

23:52 |
Lời Tác Giả: Cứ gần sát ngày 8/3 hàng năm, rất nhiều người đã đến thắp hương trên mộ phần của mười cô gái Ngã Ba Đồng Lộc vì mọi người tin rằng mười cô gái ấy rất thiêng bởi họ đều chết trẻ và chưa cô nào có chồng.

Võ Thị Tần

Người có chức quyền thì đến cầu các cô phù hộ cho họ mau thăng tiến. Người đi buôn thì cầu các cô phù hộ cho họ làm ăn phát tài. Các cặp trai gái yêu nhau đến xin các cô ấy phù hộ cho họ có được gia đình hạnh phúc. Nhiều đại gia mang cây cảnh đến đây trồng có khắc họ tên hẳn hoi để nhờ các cô ấy phù hộ đích danh.

Còn tôi hễ có dịp về quê là lại đến đây để khóc thương các cô gái ấy đã chết trẻ, trong đó có Võ Thị Tần là người bạn chăn trâu thời niên thiếu đói khổ của tôi. Ôi! Giá mà không có cuộc nội chiến 1955-1975 thì các cô ấy nay chắc đã có gia đình con cháu, tôi và Võ Thị Tần biết đâu lại có thể tiếp tục giúp đỡ nhau lúc khó khăn. Hồi CCRĐ, nếu tôi không được cô ấy bênh vực thì mấy thằng bé con nhà nông dân đã xô tôi ngã xuống vực sâu rồi. Tần ơi! Tôi đã nợ bạn một mạng sống mà sẽ không bao giờ có thể đáp đền được nữa!

MÙNG 8 THÁNG 3 GIỮA NGÃ BA ĐỒNG LỘC

(Kính viếng Hương Hồn 10 cô gái Ngã Ba Đồng Lộc)

Hôm nay đứng đây giữa Ngã Ba Đồng Lộc[1]
Như thấp thoáng bóng ai trên đỉnh núi mờ sương
Phải chăng ở tận Cõi Niết Bàn các cô đang cầu nguyện
Hòa bình cho các em bé thơ ngây trên đất mẹ yêu thương?

Thung lũng bình yên này có một thời suốt ngày đêm bom dội
Đã biến Đồng Lộc thành danh, tên của một Ngã Ba đường
Hàng vạn xe xuyên đạn bom ngày nối đêm ra tiền tuyến
Bom đạn dội đêm nối ngày gây chết chóc đau thương!

Kìa Rú Trọ Voi đất đá bị cày xới suốt đêm ngày
Rú Mũi Mác đã trở thành một trận địa bắn máy bay
Còn Rú Môi che mặt trời cho TNXP làm đường đỡ nắng
Bốn phía quanh Ngã Ba, những đồi cây bị xới cày khô trắng!

Nhưng những đoàn xe ngụy trang lại hóa thành một rừng cây
Che chở TNXP đang thông đường cho xe vào hỏa tuyến
Nhiều cô gái nén lòng chia xa mối tình đầu lưu luyến
Bị bắt phải lấp hố bom để giữ vững Ngã Ba này!

Vào 5 giờ chiều ngày 24 tháng 7 năm 1968
Một quả Bom Mỹ rơi trúng tiểu đội Võ Thị Tần
Suốt mấy ngày bới tìm xác những nàng tiên dũng cảm
Tần, Hợi, Cúc, Rạng, Xanh, Hường, Hạ, Nhỏ, Xuân, Xuân![2]

Ôi! Di ảnh trên Mộ Phần của nhiều cô chưa qua tuổi hai mươi
Chiều muộn trước khi về chốn Bồng Lai, chưa cô nào ăn tối!
Khóc bên mộ các cô, mẹ đặt nắm cơm cùng nhúm muối:
“Các con đã ra đi thác xuống làm ma đói, các con ơi!”

Trước Mộ Mười Cô không ai ngăn được nước mắt rơi!
Vừa đuổi được Tây, thì đã có kẻ đón giặc Tàu vào đầu ngõ
Chúng đã cưỡng chiếm Hoàng Sa, nay lại đang dùng tiền dụ dỗ
Bè đảng Trần Ích Tắc cố vị tham quyền mưu bán nước, các cô ơi!

Chúng xây Tượng Đài TNXP thật to để canh cho chúng ăn chơi
Vườn ruộng, đất nhà, cả mồ mả tổ tiên chúng bắt phải di dời
Để xây dự án làm giàu cho cháu con, cả bầy tư bản đỏ
Dân khiếu kiện đòi đất nhà bị đàn áp chưa từng có!

Đây là Ngã Ba Linh Thiêng giữa thung lũng Đất Trời
Vận mệnh Non Sông trước Ngã Ba, nhân dân cần lựa chọn!
Giữ độc lập cho non sông, hay bán rẻ Giang Sơn cho Hoa Cộng?
Xin hàng triệu Hương Hồn các chị các anh đã ngã xuống trả lời tôi!

Đầu năm mới 2013 cả dân tộc Việt Nam đang nhiệt thành trao đổi
Góp ý kiến sửa đổi Hiến Pháp 92 vì vận mệnh của Giang Sơn
Các cô thích dân ta được sở hữu ruộng đất để xây đời mới
Hay chấp nhận kiếp cày thuê cho bọn “đầy tớ” vong ơn?

Các cô thích chấp nhận để nhân dân bị xéo dày mãi mãi
Bởi lũ lãnh đạo độc tài hay thích được làm chủ quê hương?
Thích dân ta được quyền tự lựa chọn lấy những người lãnh đạo
Bảo vệ quyền lợi cho chính mình hay để loài độc đảng cầm cương?

Các cô đã phải hi sinh cả cuộc đời mình vì độc lập tự do cho Tổ Quốc
Vậy mà nay đất nước bị lệ thuộc giặc Tàu, làm sao khỏi đớn đau?
Ngư dân ta trên biển thường xuyên bị giặc Tàu xâm phạm
Hồn các cô có linh thiêng xin hãy cứu vớt đồng bào!

Mùng 8/3 lần thứ 44 của Mười Cô nơi Cõi Phật đến rồi!
Tại Đồng Lộc tôi xin có một vài lời với “Người cùng tuổi”[3]
Cùng yêu nước thương nhà, cùng lớn lên trên quê hương nghèo đói
“Xin hẹn gặp lại nhau tại Ngã Ba Chốn Bồng Lai, để cùng đi dạo Tần ơi!”

Nơi Cõi Thiêng chúng ta sẽ cùng nguyện cầu Đức Phật, lạy Chúa Trời
Hãy giúp cho dân tộc mình lấy lại được những tinh thần dũng cảm
Của Lý Thường Kiệt, Quang Trung, Lê Lợi, Trần Quốc Tuấn...
Để đòi lại Hoàng Sa và Biển Đông cho Đất Mẹ, các cô ơi!

Ngã Ba Đồng Lộc, 7/3/ 2013.

©Ts. Đặng Huy Văn

Tác giả gửi đến VANGANH.INFO

[1]- Ngã Ba Đồng Lộc thuộc xã Đồng Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Đó là một nơi có các đồi núi như Rú Mũi Mác, Rú Trọ Voi, Rú Môi...quây quần thành một thung lũng nằm trên con đường tiếp tế của Miền Bắc vào chiến trường trong cuộc nội chiến Bắc Nam trước 1975. Những năm từ 1965, quân đội Mỹ đã dội xuống đây hàng trăm ngàn tấn bom đạn để cắt đứt đường tiếp tế của Miền Bắc vào xâm chiếm Miền Nam.

[2]- Tên mười cô gái Thanh Niên Xung Phong (TNXP) làm đường đã bị chết cùng một lúc tại Ngã Ba Đồng Lộc vì một quả bom của quân đội Mỹ rơi đúng nơi các cô đang san đường vào khoảng 5 giờ chiều ngày 24/7/1968 khi các cô chưa được ăn cơm tối.

[3]- “Người cùng tuổi”: Võ Thị Tần, tiểu đội trưởng tiểu đội TNXP đã hi sinh hôm 24/7/1968 tại Ngã Ba Đồng Lộc. Cô ấy cùng tuổi và là bạn thiếu thời cùng chăn trâu cắt cỏ trong thời gian tác giả phải đi ở chăn trâu để kiếm sống (CCRĐ: 1954-1955), người xã Thiên Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh, quê ngoại của tác giả.


Read more…

Blogger Huỳnh Ngọc Chênh được đề cử giải thưởng công dân mạng

14:14 |
Trang blog Huỳnh Ngọc Chênh.RFA

Nhà báo, blogger Huỳnh Ngọc Chênh của Việt Nam được đề cử giải Netizen của Tổ chức Phóng viên Không biên giới RSF năm 2013.

Huỳnh Ngọc Chênh là ứng viên Việt Nam duy nhất trong số 9 nước gồm Bulgaria, Egypt, Honduras, Iran, Kazakhstan, Mali, Russia, Senegal và Vietnam.

Anh được đề cử thông qua những hoạt động được tổ chức Phóng viên Không biên giới RSF đánh giá là tranh đấu cho tự do thông tin. Bênh vực, bảo vệ cho những blogger, những nhà bất đồng chính kiến trên không gian mạng.

Vinh dự

Huỳnh Ngọc Chênh là nhà báo kỳ cựu của tờ Thanh Niên và được nhiều người biết dưới trang blog Huỳnh Ngọc Chênh có số người vào đọc hàng ngày khá cao.

Trên trang blog của mình anh đã chỉ trích những việc làm sai trái của chính phủ cũng như tập hợp những bài viết giá trị công khai chỉ ra những điều mà tờ Thanh Niên trước đây cũng như trên hệ thống báo chí quốc doanh không thể loan tải vì chính sách kiểm duyệt của nhà nước.

Nhà báo, blogger Huỳnh Ngọc Chênh cũng là người dành hầu hết thời gian của mình để yễm trợ các cuộc biểu tình chống Trung Quốc do đó trang blog của anh luôn bị tường lửa bao vây.

Công việc của mình là viết lách, viết lên những gì mà mình suy nghĩ. Mình phải viết lâu dài nhưng có khi nhận được cái giải này thì việc viết lách có khi nó khó khăn hơn. - Blogger Huỳnh Ngọc Chênh
Trả lời Đài Á Châu Tự Do, nhà báo Huỳnh Ngọc Chênh cho biết cảm tưởng của anh khi nhận được thông tin này như sau:

“Trước hết là sung sướng và rất vinh dự khi được đề cử nhận giải thưởng cao quý này nhưng cũng thấy rằng so với các bạn ở Việt Nam thì nhiều người mình cũng chưa bằng. Bình chọn như thế này thì hay lắm cho nên vinh dự lắm nhưng rồi hơi lo lo.

Công việc của mình là viết lách, viết lên những gì mà mình suy nghĩ mình phải viết lâu dài nhưng có khi nhận được cái giải này thì việc viết lách có khi nó khó khăn hơn, lo một chút đó thôi, sợ không được tiếp tục viết nữa.

Với lại cũng lo là mình có xứng đáng lắm không. Bây giờ tới tương lai mình có đủ vững chắc để mà giữ danh hiệu đó, bảo vệ niềm tin mà mọi người gửi gấm cho mình hay không.”

Cuộc tranh đấu đòi tự do ngôn luận

Giải Netizen của Tổ chức Phóng viên Không biên giới ra đời vào năm 2008 với mục đích kêu gọi mọi người trên khắp thế giới ủng hộ tự do tiếp cận internet mà không bị giới hạn, kiểm duyệt. Đây được xem là cuộc đấu tranh đòi tự do ngôn luận online trên khắp thế giới.

Giải Netizen năm nay vẫn được Google yễm trợ như mọi năm nhưng thế thức bình chọn sẽ do công dân mạng quyết định. Việc đề cử cho ứng viên bắt đầu từ ngày 27 tháng 2 cho đến hết ngày 5 tháng 3 năm 2013.

Phiếu bầu sẽ được tính trên trang nhà của tổ chức Phóng viên không biên giới và mỗi máy tính chỉ được bình chọn một lần cho ứng viên mình yêu thích. Người thắng cuộc sẽ được công bố vào ngày 7 tháng Ba với số tiến thưởng 2.500 Euro.

Giải thưởng Netizen hàng năm được xem là rất giá trị của tổ chức Phóng viên không biên giới, nó được trao cho những ngòi bút trên không gian mạng đã can đảm vượt qua mọi trở lực để mang những thông tin trung thực đến cho người đọc bất kể họ là ai và chính kiến kiến của họ là gì.

Florian Maganza, chuyên gia phân tích chính sách của Google nói rằng giải thưởng Netizen ngoài việc trao cho người đã tranh đấu cho tự do thông tin trên Internet bằng chính tự do của họ khi bị bắt bớ, sách nhiễu và cấm đoán, Netizen còn nhắc nhở cho thế giới đừng quên những con người xứng đáng này.

Dưới dây là đường link tới trang nhà Phóng viên không biên giới để có thể vote cho nhà báo, blogger Huỳnh Ngọc Chênh:





© Mặc Lâm, biên tập viên RFA
Read more…

Lê Phong Lan, kẻ thỏa dâm trên những oan hồn xứ Huế

11:07 |
Có lẽ không đâu trên đất nước Việt Nam mà những ngày Xuân về Tết đến lại thê lương, lại “tang chí kỳ ai” như ở Huế, bởi sau biến cố Tết Mậu Thân 1968 thì cứ hằng năm, từ tiết Nguyễn Đán cho đến Nguyên Tiêu, hàng ngàn gia đình đồng bào Huế âm thầm cúng giỗ và cầu siêu cho thân nhân của họ, là trong số hơn 7.000 nạn nhân bị cộng quân thảm sát trong đợt “Tổng công kích và Tổng Nổi Dậy” cách đây 45 năm vào dịp tết Mậu Thân 1968.

Có một sự trùng hợp lạ lùng và kỳ bí là là trong loạn Kinh Thành vào ngày 23 tháng 5 năm Ất Dậu, tức ngày 05 tháng 7 năm 1885, ngoài 1.500 lính thú của triều đình đã vị quốc vong thân thì cũng có hơn 7.000 đồng bào Huế bị tử nạn trong cuộc binh biến này, đó là lý do vì sao ở Huế có Miếu Âm Hồn để phụng thờcác chiến sỹ trận vong và đồng bào tử nạn trong cuộc binh biến kinh thành đó. Từ thời vua Thành Thái mãi cho đến nay, hàng năm, cứ đến ngày 23 tháng 5 âm lịch, tất cả các chùa chiền miếu mạo, nhà thờ và các gia đình đều bắt đầu cúng tế cô hồn kéo dài một tuần lễ, cùng lúc đó, hàng ngàn đồng bào Huế tập trung đến Miếu Âm Hồn để tế lễ Đàn Âm Hồn để tưởng nhớ và cầu siêu cho đồng bào, cho các anh linh đã trận vong trong ngày thất thủ Kinh đô được giải oan và siêu thoát. Nhiều người vẫn tin rằng các oan hồn đó chắc chắn đã siêu thoát, bởi không chỉ riêng đồng bào Huế mà đến cả Bá Quan Văn Võ của Triều Nguyễn và cả thân hào, nhân sỹ cùng chính quyền các cấp của Việt Nam Cộng Hòa đều ghi nhận công lao của họ trong trong cuộc binh biến đó và đã thành tâm cầu nguyện cho sự siêu thoát của họ trong suốt chặng đường lịch sử ngót 130 năm qua.

Nhưng ngược lại, đối với oan hồn của những nạn nhân của Mậu Thân 1968 thì chắc là khó lòng mà siêu thoát được, bởi ngay khi “Kinh Thành Thất Thủ lần thứ 2” vào Tết Mậu Thân 1968, thì hơn 7.000 oan hồn này đã bị thảm sát không phải bởi giặc Pháp mà chính bởi những người đồng chủng của mình và không ít những kẻ đã xuống tay đập đầu, chôn sống họ lại là những người con của đất Thần Kinh, như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Đóa, Nguyễn Thị Đoan Trinh… Và thật khốn nạn thay, không lâu sau khi “Kinh Thành Thất Thủ Lần Thứ 3” vào ngày 25 tháng 3 năm 1975 thì nơi quy tập hài cốt của các nạn nhân của vụ thảm sát này, tức là nơi họ được chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đưa về an nghỉ bên nhau tại Nghĩa Trang Ba Đồn, phía Tây Nam thành phố Huế, lại bị san phẳng, lại bị phá hủy. Kệ thờ các nạn nhân, dù chỉ được xây dựng rất đơn sơ, để hương khói và đặt phẩm vật cũng tế mỗi khi hiệp kỵ, cũng bị phá hủy hoàn toàn, để ngay trên mặt bằng của Nghĩa Trang đó được xây lên hàng trăm ngôi biệt thự đồ sộ cho những cán bộ tập kết, những người đã từng một lần trở về Huế trong dịp tết Mậu Thân 1968 để tàn phá Kinh đô và thảm sát đồng bào, và một trong những ngôi biệt thự ở đó là của một thầy giáo, một nhà thơ, một chiến sỹ cách mạng, một hung thần của Huế - Mậu Thân 1968: Hoàng Phủ Ngọc Tường.

Suối nước mắt của người dân Huế lại tuôn đổ khi hơn 7.000 thân nhân của họ lại bị thảm sát thêm một lần nữa để biến mãnh đất hoang vu ngập tràn tử khí của các oan hồn thuở nọ thành một khu đô thị mới khang trang, với những nấm mồ hoang một thuở, nay trở thành những biệt thự đồ sộ, nguy nga. Để cho những công thần của chế độ có được một cuộc sống tiện nghi và phong lưu, người ta sẳn sàng làm cho những nạn nhân của họ phải chết hai lần…

Xin cảm ơn nhà báo Huy Phương với những ý thơ chan chứa nỗi niềm xót thương cho những oan hồn cô lạnh của Mậu Thân 1986 như một bài văn tế, như một áng kinh cầu để cho các oan hồn sớm được siêu thoát:

“Chiêng trống nào xin hãy nổi lên
Gọi hồn vất vưởng chốn oan khiên
Quan quân uổng tử giờ lâm trận
Tử tội thân lê đoạn xích xiềng.

Những giọt đàn bầu tiếng nỉ non
Nhị hồ réo rắt gọi vong hồn
Cửa thành xương thịt phơi năm hướng
Máu đỏ chan hòa cát biển đông.

Hãy thổi lên một đoạn sáo buồn
Trong đêm than thở tiếng ca ngâm
Gọi hồn lãng đãng chưa siêu thoát
Gọi xác ngậm ngùi chưa rửa tan.

Xương thịt nào của những bách dân
Chôn vùi dưới hào lũy Khiêm Lăng
Kinh đô thịt nát ngày thất thủ
Sọ trắng giăng hàng tết Mậu Thân.

Hãy gióng lên ơi những hồi chuông
Vang về vách núi, dội ven sông
Hồi chuông siêu thoát cho oan khuât
Lạnh lẽo âm thầm chẳng khói hương.

Hãy đánh lên ơi những tiếng cồng
Tù và rúc gọi hồn lưu vong
Tuổi trai tan nát đời chinh chiến
Đầu núi, thân non, chân đạp rừng.

Xin gọi trăng soi khe Đá Mài
Thời gian rêu phủ mảnh đầu ai
Bãi Dâu đau xót hồn Gia Hội
Phú Thứ tóc vương trảng cát dài.

Xin tụng cho hồn một thửa kinh
Được nơi bến Giác, ngộ duyên lành
Vượt qua hết kiếp trầm luân ấy
Nếu thật hồn ơi có hiển linh!

Hãy dựng lên trăm tháp trai đàn
Xin cùng trì chú với chư tăng
Đốt nghìn ngọn nến lung linh sáng
Rưới rượu cho hồn được giải oan.

Mệnh sử một thời mảnh đất Chiêm
Nghìn năm thương Huế nỗi oan khiên
Nam ai một khúc ca đòi đoạn
Trăng khuyết, nhang khuya, lạnh miếu đền…”

Nhưng liệu các oan hồn có siêu thoát được không khi những kẻ thủ ác vẫn bao biện, chối bỏ tội ác của mình và khi cộng quyền vẫn phủi bỏ mọi trách nhiệm về vụ thảm sát đồng bào Huế. Nhưng khốn nạn hơn cả là việc đạo diện Lê Phong Lan vừa xây dựng một bộ phim “Giải Mã Mậu Thân 1968” gồm 12 tập vừa trình chiếu trên hệ thống đài truyền hình cấp nhà nước của cộng sản Việt Nam trong dịp tết Nguyên đán vừa qua nhân kỷ niệm 45 năm ngày “Tổng công kích, tổng nổi dậy” để đầu độc thế hệ trẻ Việt Nam bằng cách bóp méo hoàn toàn lịch sử của cuộc chiến tranh Nam-Bắc và chuyển hết toàn bộ tội ác của phía cộng quân cho nhân dân miền Nam, cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và Quân Đội Đồng Minh Hoa Kỳ.

Tôi thực sự không biết rõ Lê Phong Lan là con cái nhà ai, cha mẹ y thị thuộc thành phần nào trong xã hội, nhưng tôi không thể không khá khen Lê Phong Lan là một con người quá can đảm dám dối trá một cách quá trắng trợn về một sự thật lịch sử mà những bằng chứng vẫn còn đầy đủ và rõ ràng và những nhân chứng của tấn bi kịch vô cùng bi thương đó của dân tộc, của đất nước hiện vẫn còn hiện hữu và sẳn sàng làm chứng về việc họ chứng kiến những vụ hành quyết đồng bào vô tội của cộng quân trong những ngày “Tổng công kích, Tổng nỗi dậy” đó.

Người dân chốn kinh kỳ có thành ngữ được dùng rất phổ biến như một lời nguyền rằng: “Lời nóai là đoại máu” để cảnh báo những kẻ chuyên ăn gian nói dối về những hậu quả mà mà họ sẽ phải gánh chịu nếu không thận trọng trong lời ăn tiếng nói, nhất là khi họ lộng ngôn, vọng ngữ… Như vậy việc đạo diễn Lê Phong Lan xây dựng bộ phim dối trá hoàn toàn về biến cố Mậu Thân ở Huế, biến những điêu tàn hoang phế của Kinh thành do cộng quân gây ra thành sự tàn phá của bom đạn Mỹ Ngụy và biến hơn 7.000 đồng bào Huế do chính cộng quân Bắc Phương tàn sát bằng cách đập đầu, chôn sống… thành những nạn nhân của “nhân dân nỗi dậy” và của Mỹ Ngụy… thì không biết sẽ bao nhiêu ngàn đọi máu của Lê Phong Lan và của cháu con ngàn đời của y thị sẽ phải đổ ra vì những hành động và lời nói dối trá của y thị.

Lê Phong Lan và đồng bọn ơi! “Tội ác chỉ có thể được che đậy với một lời nói dối, và lời nói dối chỉ có thể được duy trì nhờ tội ác. Ai từng đem tội ác ra làm phương thức cho hành động rồi chắc chắn sẽ buộc phải lấy dối trá làm nguyên tắc.” Vậy thì đã quá rõ thêm về Lê Phong Lan và những con người cộng sản.

Liệu Lê Phong Lan và đồng bọn có biết rằng chính Hoàng Phủ Ngọc Tường là một trong những hung thần của Huế Mậu Thân 1968 là kẻ đã trực tiếp tắm máu đồng bào Huế trong những ngày “tổng công kích” đó, đã có những lần còn nghe được cả tiếng của những oan hồn về đòi nợ máu để rồi phải có những phút giây ăn năn mà thốt lên rằng:

“Những chiều Bến Ngự giăng mưa
Chừng như ai đó mơ hồ gọi tôi
Tôi ra mở cửa đón người
Chỉ nghe tiếng gió thổi ngoài hành lang!”

Thế đó, Lê Phong Lan và đồng bọn hãy dành ra một khoảnh khắc thôi để chiêm nghiệm cuộc đời đi! Rằng: “Thói dối trá là biểu hiện của sự suy thoái về đạo đức trong đời sống xã hội” và tất nhiên là những kẻ dối trá rồi sẽ phải trả giá cho những điều dối trá: Hồ Chí Minh, một kẻ đại dối trá của Việt Nam và thế giới để được tung hô như thánh như thần, rồi cuối đời cũng bị moi gan móc ruột phơi thây giữa Ba Đình để chẳng bao giờ được siêu thoát.Tướng Võ Nguyên Giáp với tội ác nướng hàng trăm ngàn sinh linh trong chiến dịch biển người tại Điện Biên Phủ rồi lại xua hàng triệu thanh niên miền Bắc vào đánh chiếm miền Nam bằng luận điệu dối trá là “giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước” để được công thành bằng cách phơi thây hàng chục triệu đồng bào của cả hai miền Nam-Bắc và rồi đến những năm tháng cuối đời hiện nay phải sống vật vờ lúc mê lúc tỉnh để nghe tiếng réo gọi và nguyền rủa của những oan hồn, đã phải bỏ mình vì sự dối trá của Giáp và của chế độ cộng sản. Như thế có xứng đáng để mà phải sống bằng sự lọc lừa và dối trá?

Lê Phong Lan cần phải soi lại mình trong gương, để tự thấy rằng những đặc quyền đặc lợi mà đảng và nhà nước cộng sản dành cho có xứng đáng để Phong Lan phải trả cho cái giá của sự dối trá trắng trợn bằng cách thỏa dâm trên các oan ồn xứ Huế cũng như dối lừa trên nỗi đau của người dân Huế hay không.

Hãy sớm ăn năn tội đi hỡi Lê Phong Lan, bởi sự thỏa dâm trên các oan hồn của vụ thảm sát Huế-Mậu Thân 1968 là một tội ác khó tha. Bởi lời nguyền của xứ Huế là “Lời nói là đọi máu” thì cái món nợ mà Lê Phong Lan và ngàn đời cháu con của Phong Lan phải trả cho sự dối trá đó sẽ vô cùng khủng khiếp: Những tai ương sẽ dến với gia đình Phong Lan, sinh con đẻ cháu sẽ câm điếc tật nguyền đến hơn 7.000 kiếp sẽ là cái giá mà dòng họ Lê Phong Lan phải trả cho sự dối trá, sự thỏa dâm này đối với hơn 7.000 oan hồn của xứ Huế, nếu Lê Phong Lan không kịp ăn năn.

Ngày đầu Xuân Quý Tỵ 2013. 45 năm sau vụ thảm sát Huế Mậu Thân 1968.

© Nguyễn Thu Trâm

Read more…

Tổng thư ký Hội Đồng Lý Luận Trung Ương PGS. TS. Nguyễn Viết Thông chưa hề đọc Mác

06:09 |
Trần Mạnh Hảo viết báo, viết văn, làm thơ, viết phê bình văn học

“Mọi sự vật đều được cấu thành bởi các mặt đối lập thống nhất” - (K.Marx- F.Engels)
Trên báo “ Nhân Dân online” ngày 20/ 02/2013 có in bài của ông PGS.TS. Nguyễn Viết Thông – Tổng thư ký Hội đồng lý luận Trung ương có tên: “Tính hợp lý của Ðiều 4 trong Dự thảo Hiến pháp (sửa đổi)”

Chúng tôi (Trần Mạnh Hảo) xin phép được trao đổi với PGS.TS. Nguyễn Viết Thông – Tổng thư ký Hội đồng lý luận Trung Ương trên tinh thần của khoa học lý luận, để đảm bảo tính logic của vấn đề ông đặt ra; tuyệt nhiên không muốn và không dám “tranh luận” với hệ thống còng số tám đang lăm le tinh thần học phiệt trong món khoa học mang tính tùy tiện của một kẻ quy chụp, đầy chất công an trong câu văn đầu tiên của nhà lý luận số một của đảng cộng sản Việt Nam là ông PGS. TS. Nguyễn Viết Thông như sau :

“Trong nhiều năm qua, các thế lực thù địch luôn kích động đòi chúng ta bỏ Ðiều 4 trong Hiến pháp, nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta”

PGS. TS. Nguyễn Viết Thông

Khi Đảng Cộng sản và nhà nước Việt Nam (hai khái niệm này là một) đang kêu gọi nhân dân góp ý cho việc sửa đổi bản hiếp pháp 1992 với chủ trương không hề có sự cấp đoán hay trù dập đe dọa nào, nghĩa là tự do gấp triệu lần món tự do của tư bản; vậy mà ông PGS.TS. Nguyễn Viết Thông lại đe dọa, quy chụp những ý kiến trái chiều vào cái rọ của điều 88 (hai còng số tám) là CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH thì hóa ra, chính ngài Tổng thư ký Hội đồng lý luận trung ương đang chống lại chủ trương dân chủ hóa xã hội của đảng cộng sản Việt Nam hay sao?

Xin ông PGS.TS. Nguyễn Viết Thông đọc một đoạn văn ngắn này để xem CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH là những “tên“ nào:

“Đại diện những người ký tên “Bản Kiến nghị về sửa đổi Hiến pháp 1992″ trao Kiến nghị cho Ủy ban sửa đổi Hiến pháp
Hồi 10h sáng thứ Hai 4-2-2013, một phái đoàn gồm 15 nhân sĩ trí thức, đại diện cho 72 người đầu tiên trực tiếp ký tên và hàng ngàn đồng bào đã tham gia ký tên vào bản “Kiến nghị về sửa đổi Hiến pháp 1992”, đã đến Địa điểm tiếp nhận ý kiến đóng góp của nhân dân tại 37 Hùng Vương, Hà Nội, để trao bản Kiến nghị cho Ủy ban.

Thành phần Đoàn đại diện gồm: Nguyễn Quang A, nguyên Viện trưởng Viện IDS, Hà Nội; Phan Hồng Giang, TSKH ngành nghiên cứu văn học, Hà Nội; Lê Công Giàu, nguyên Phó Bí thư thường trực Đoàn TNCS HCM – TPHCM, TPHCM; Chu Hảo, nguyên Thứ trưởng Bộ KH & CN, Hà Nội; Phạm Duy Hiển, nguyên Phó Viện trưởng Viện năng lượng nguyên tử Việt Nam, Hà Nội; Vũ Đức Khiển, nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Quốc hội, Hà Nội (vắng mặt đột xuất); Tương Lai, nguyên thành viên Ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội; Phạm Chi Lan, nguyên thành viên Ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội; Hồ Uy Liêm, nguyên Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội KH & KTVN, Hà Nội; Nguyễn Đình Lộc, nguyên Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Hà Nội (Trưởng đoàn); Huỳnh Tấn Mẫm, nguyên Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn, TPHCM; Nguyên Ngọc, Nhà văn, Hội An; Hoàng Xuân Phú, GS, Viện Toán học, Hà Nội; Nguyễn Minh Thuyết, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa-Giáo dục & Thanh thiếu niên-Nhi đồng Quốc hội, Hà Nội; Nguyễn Trung, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội; Tô Nhuận Vỹ, Nhà văn, Huế.

Trước đó, Đoàn đã thông báo mời một số báo chí tới tham dự, đưa tin.

Tiếp Đoàn có ông Lê Minh Thông, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội, Phó Ban Biên tập dự thảo sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992 và một số cán bộ trong Văn phòng Ủy ban sửa đổi Hiến pháp.”

Nguồn: Trao bản Kiến nghị về sửa đổi Hiến pháp 1992 - Ba Sàm 

Chẳng lẽ các nhân sĩ trí thức lớn vào hàng bậc nhất Việt Nam được kể tên trên đây (hầu hết họ đều là đảng viên lâu năm của đảng cộng sản Việt Nam hoặc là những cán bộ cao cấp, hoặc từng là Ủy viện trung ương đảng) đều là “bọn” như ông Nguyễn Viết Thông gọi tên là CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH bất cứ lúc nào cũng có thể bị bắt hay sao? Đấy là chưa kể những nhân vật nổi tiếng hàng đầu Việt Nam như nhà toán học bác học Hoàng Tụy, nhà văn Nguyên Ngọc, GS. Nguyễn Huệ Chi, Nguyễn Văn Hạnh, GS TS, nguyên Thứ trưởng Bộ Giáo dục, nguyên Phó Ban Ban Văn hóa Văn nghệ Trung ương, TP HCM, hoặc các vị tướng tá của Quân Đội nhân dân Việt Nam Nguyễn Thị Ngọc Toản, giáo sư bác sĩ, Đại tá, cựu chiến binh, Hà Nội, Thiếu tướng Huỳnh Đắc Hương, Hà Nội, Thiếu tướng Nguyễn Hữu Anh, Hà Nội…cùng với 4.559 người ( tính đến 20-02-2013) ký tên vào bản sửa đổi hiếp pháp yêu cầu bỏ điều 04 bất hợp lý của hiến pháp 1992… Chẳng lẽ mấy nghìn người này đều là “ bọn” người của CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH như PGS. TS. Nguyễn Viết Thông quy chụp và chỉ điểm hay sao?

Theo logic còng số tám (điều 88) của ông Tổng thư ký hội đồng lý luận Trung ương kể trên thì việc ông Lê Minh Thông, Phó chủ nhiệm Ủy ban pháp luật của Quốc Hội , phó ban biên tập dự thảo sửa đổi, bổ sung hiếp pháp 1992 cũng là người của CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH vì ông này dám tiếp “bọn” yêu cầu bỏ điều 04 trong hiếp pháp, tức “bọn” CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH ở chính văn phòng quốc hội ư?

Trong bài viết của chúng tôi (TMH) in trên internet: “Chuyện thật như đùa về một nền chính trị ngược đời”, có đoạn như sau:

“Cách đây mười mấy năm trước, mỗi lần các ông Bí thư thành uỷ Đảng cộng sản TP. Hồ Chí Minh từ Võ Văn Kiệt, Võ Trần Chí, Nguyễn Văn Linh, (hoặc gần đây với ông Nguyễn Minh Triết…) gặp gỡ một số nhà văn sống tại TP. HCM, lần nào, kẻ viết bài này cũng xin được phép hỏi các vị lãnh đạo đảng một số câu hỏi mà tự mình không giải đáp được; chúng tôi thưa với các vị rằng: thưa đồng chí Bí thư thành uỷ kính mến, có cả trăm câu hỏi cứ dày vò trí não tôi, khiến tôi dễ trở thành tên phản động nếu không có ai hay cấp trên “gỡ rối tơ lòng” dùm, vậy xin được hỏi các vị lãnh đạo mấy câu hỏi sau:

1- Từ khi còn học phổ thông, chúng tôi đã được học thuộc lòng câu kinh “biện chứng pháp Mac-xit” như sau: “Mọi sự vật đều được cấu thành bởi các mặt đối lập thống nhất”. Thưa điều này, dưới chế độ ta, liệu có còn đúng không? Vì có một “sự vật” to bằng trời là nền chính trị của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam không nằm trong quy luật này của Marx vì nó cấm đối lập chính trị?”

Khi có dịp tiếp xúc các ông bí thư thành ủy Sài Gòn trước kia, tôi đều hỏi câu trên, nhưng các ông nói để các ông hỏi lại trung ương, nhưng rồi vẫn chìm vào im lặng. Nay chúng tôi xin hỏi PGS. TS. Nguyễn Viết Thông, tổng thư ký Hội đồng lý luận trung ương xem cái sự vật có tên là NỀN CHÍNH TRỊ CẤM ĐỐI LẬP CỦA NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM có nằm trong nguyên lý căn bản của phép biện chứng Mác-xít: “Mọi sự vật đều được cấu thành bởi các mặt đối lập thống nhất” hay không?

Cái thói cho mọi ý kiến trái chiều, trái với mình (tức là ý kiến đối lập) đều phải bị triệt tiêu, tiêu diệt, rằng đó là CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH phải nằm trong tầm ngắm của điều luật 88 (hai còng số 8) mang tội danh “ TUYÊN TRUYỀN CHỐNG CHẾ ĐỘ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA” không chỉ của PGS. TS. Nguyễn Viết Thông mà chính là quan điểm chính thống của đảng cộng sản Việt Nam đều là những ngụy tín những quy định, những chụp mũ HOÀN TOÀN CHỐNG LẠI PHÉP BIỆN CHỨNG MÁC-XÍT. Marx xuất hiện bao giờ cũng trên tinh thần PHÊ PHÁN của một nhà khoa học. Cấm mọi người phê phán mình, Đảng Cộng sản Việt Nam coi như đã cấm đoán và bỏ tù tinh thần phê phán Mác –xít.

Thật nực cười. một vị tổng thư ký Hội đồng lý luận Trung Ương như PGS. TS. Nguyễn Viết Thông lại chưa hề đọc và học về phép biện chứng Mác Xít, chưa hề được học môn logic học (luận lý học) nên các quan điểm trong bài bài viết này của ông đều giả dối và duy tâm tuyệt đối. Linh hồn của phép biện chứng Mác-xít (lấy từ biện chứng pháp Hegel) là nhịp hai: ĐỐI LẬP (nhịp một: Xuất đề - nhịp hai: PHẢN ĐỀ ( tức đối lập), nhịp ba: tổng hợp đề… từ đây lại sinh ra một xuất đề khác… cứ thế căn đuôi cá nhau đi mãi …)

Nhân danh chủ nghĩa Marx để phản Marx –Engels chính là những quan điểm phi khoa học (gọi là quan điểm phản động) trong hầu như toàn bộ bài viết kể trên của PGS. TS. Nguyễn Viết Thông trên tờ “ Nhân Dân online” ngày 20-02-2013 vậy.

Vì ông tổng thư ký hội đồng lý luận trung ương của một đảng cộng sản tự xưng là theo chủ nghĩa Marx nhưng chưa hề đọc Marx, chúng tôi đành phải nói qua với ông Thông (PGS.TS. Nguyễn Viết Thông) về tinh thần tự do trong tranh biện của Marx.

Marx có nhiều sai lầm quan trọng như thái độ tuyệt đối hóa trước các sự vật trong một thế giới tương đối; ví như ông nhận thức giai cấp tư bản là tuyệt đối xấu và giai cấp vô sản tuyệt đối tốt, rằng thuyết THẶNG DƯ của ông là sai về kinh tế học, định nghĩa lịch sử loài người là lịch sử của cái ác (… là lịch sử đấu tranh giai cấp) là sai; ví như học thuyết xóa bỏ tư hữu về tư liệu sản xuất và công cụ sản xuất, tuyệt đối hóa công hữu là tốt và tư hữu là xấu là những cái sai căn bản của Marx; ví như mô hình của thế giới cộng sản đại đồng Marx vẽ ra là hoàn toàn duy tâm, hoang tưởng…

Nhưng tinh thần khoa học trong tư duy lý luận của Marx chống lại độc tài, độc đoán trong tranh biện, chống lại bọn học phiệt, chống lại những kẻ muốn bóp chết nền tự do báo chí của Marx cần phải được học tập. Marx qua các bài báo đấu tranh cho tự do dân chủ, luôn luôn lấy tiêu chí của Voltaire làm trọng: “Tôi có thể không đồng ý với quan niệm của anh nhưng tôi sẽ chiến đấu cho tới chết để anh được quyền nói lên chính kiến của mình”…

Xóa bỏ, bắt bớ những người có ý kiến trái chiều như đảng cộng sản Việt Nam đang làm khác gì các ông đang kết án Marx?

Marx từng khẳng định không có tự do báo chí tư sản thì không có chủ nghĩa Marx. Vậy mà nhà nước của đảng cộng sản Việt Nam tự xưng là đầy tớ của nhân dân lại sở hữu 700 tời báo, trong khi nhân dân là ông chủ thì tuyệt nhiên bị cấm ra báo, cấm lập hội lập đảng; thế mà ông Thông và các ông dám bảo dân ta tự do lắm, hạnh phúc lắm, được sống trong một xã hội “DÂN CHỦ CÔNG BẰNG VĂN MINH” lắm lắm thì sự nói ngược của các ông cần phải được ghi vào kỷ lục guiness thế giới…

Thưa ông PGS. TS. Nguyễn Viết Thông, khi ông đẩy những người có ý kiến đối lập vào với cái gọi là CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH tức “bọn” TUYÊN TRUYỀN CHỐNG CHẾ ĐỘ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA… như bài viết trên của mình, thì ông và các ông cầm quyền hiện nay đang chống Marx và đang truy nã tinh thần tự do dân chủ mà Marx quảng bá trên 200 năm trước đấy. Hẹn có dịp, chúng tôi sẽ lại được trao đổi với NHÀ KHOA HỌC phi logic và phi Mác-xít Nguyễn Viết Thông.,.

Sài Gòn ngày 20-02-2013
© Trần Mạnh Hảo
Read more…

Về Thống Đốc Ngân Hàng Nhà Nước Nguyễn Văn Bình

02:11 |
Giang Lê

Mấy hôm trước nhân đọc một bài phỏng vấn thống đốc NHNN Nguyễn Văn Bình tôi thắc mắc trên G+ về ngân hàng MIB ở Nga, nơi ông Bình từng làm phó rồi quyền chủ tịch trong giai đoạn 2001-2005. Thực ra thông tin về việc thống đốc từng có thời làm việc ở MIB đã được công bố khi ông vừa được chỉ định làm thống đốc tháng 8/2011. Lúc đó tôi cũng thắc mắc về ngân hàng MIB nhưng rồi bận quá nên quên mất. Lần này thống đốc nhắc lại thời gian làm quyền chủ tịch MIB như là bằng chứng cho thấy ông có kiến thức và kinh nghiệm trong lĩnh vực ngân hàng nên tôi nhớ đến cái thắc mắc của mình ngày xưa và quyết định tìm hiểu kỹ hơn.

Ông Nguyễn Văn Bình, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.

Hỏi trên G+ hôm trước hôm sau đã có mấy bạn cung cấp thông tin, social network quả là lợi hại :-) Thông tin đầu tiên về MIB hoá ra lại ở trên chính website của NHNN. Theo link này MIB (và MBES) là ngân hàng được thành lập trong khuôn khổ Comecon giữa các nước trong khối XNCH từ những năm 1960-1970. Tất nhiên "ngân hàng" ở thời đó khác rất xa những ngân hàng thương mại hiện nay, hoạt động cho vay chủ yếu có tính chất giúp đỡ, tương trợ chứ không vì mục đích kinh doanh. Sau khi khối XHCN (ở Đông Âu) sụp đổ và Comecon tan rã, cả MIB (lẫn MBES) đều phải loay hoay tìm đường cải tổ. Nhưng có lẽ lý do quan trọng nhất để hai ngân hàng này còn tồn tại là trên danh nghĩa một số nước XHCN trước đây vẫn còn nợ nên phải có người tiếp quản xử lý số nợ tồn đọng đó. Tôi sẽ phân tích kỹ thêm chi tiết này nhưng trước hết có một điểm thú vị liên quan đến trang web có thông tin về MIB và MBIS nói trên.

Khi click trực tiếp link thì có vẻ phần highlight ở menu bên trái cho thấy nó phải nằm trong mục "Quan hệ với các tổ chức tài chính, tiền tệ quốc tế". Một bản tin năm 2008 và một bản tin khác năm 2010 của chính NHNN cũng xếp MIB/MBES tương đương với IMF/WB/ADB như là những tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế. Nhưng nếu bạn click thẳng vào menu này thì bạn không thể tìm được trang về MIB và MBES mà chỉ có link đến IMF, WB, ADB. Như vậy có lẽ trang về MIB/MBES trước đây nằm trong menu "Quan hệ với các tổ chức tài chính, tiền tệ quốc tế" nhưng bây giờ đã bị xóa. Tìm kỹ hơn thì hóa ra trang này hiện giờ được chuyển sang menu "Quan hệ song phương", được giấu khá kỹ trong danh sách các nước có quan hệ song phương với NHNN. Có lẽ MIB/MBES bị "downgrade" khoảng năm 2009-2010, khi mà Báo cáo thường niên của NHNN không còn nhắc đến 2 tổ chức này như những năm trước nữa. Tại sao MIB/MBES lại bị "downgrade" như vậy? Có phải NHNN muốn thông tin về 2 tổ chức này bị quên lãng dần đi không?

Thông tin thứ hai mà một bạn cung cấp cho tôi trên G+ là link đến chính website của ngân hàng MIB hiện tại. Chữ MIB là viết tắt tiếng Nga, còn tên tiếng Anh là International Investment Bank. Ngân hàng này có status tương tự như WB, nghĩa là một ngân hàng quốc tế có cổ phần đóng góp từ các nước thành viên. Hiện tại MIB chỉ còn Nga, Ba lan, Hungari, Bungari, Mông cổ, Cu ba, Rumani, Sec, Slovakia, và VN. Theo báo cáo tài chính cuối cùng năm 2011 (bản tiếng Anh) Nga nắm 44.7% cổ phần, VN chỉ có 0.327% thấp nhất trong số các thành viên (sau cả Mông cổ, Cu ba). Vốn điều lệ của ngân hàng này là 1.3 tỷ Euro, tuy nhiên cho đến cuối năm 2011 các cổ đông mới chỉ đóng góp vào 214.5 triệu Euro (tôi nghi đây là chuyển đổi từ tiền rúp của LX cũ). Mặc dù ngân hàng này được phép huy động vốn từ các nguồn khác như trái phiếu, tiền gửi của khách hàng..., trong 3 năm liên tục từ 2009 đến 2011 tất cả các thể loại liabilities của nó chỉ quanh quẩn 8-9 triệu Euro. Hệ quả là tổng tài sản không tăng, thậm chí giảm, nếu không tính phần revaluation tài sản cố định và bất động sản.

Đến cuối năm 2011 trong số tổng tài sản 350 triệu Euro ngân hàng này có đến 130 triệu cash hoặc bank deposits, nghĩa là 1/3 tài sản chẳng được đầu tư gì mà để không hoặc gửi các ngân hàng khác lấy lãi. Hơn 50 triệu Euro được đầu tư vào bất động sản, gần 50 triệu nữa là tài sản cố định. Hơn 68 triệu đầu tư vào các loại trái phiếu, một nửa là trái phiếu chính phủ của các thành viên còn lại là trái phiếu doanh nghiệp. Khoảng hơn 2 triệu Euro nữa đầu tư vào cổ phiếu. Số tiền thực sự cho khách hàng vay chỉ là 50 triệu Euro mà lại có xu hướng giảm dần từ năm 2009 (xem kỹ trong footnote hoá ra đây là net amount, tổng số tiền MIB cho khách hàng vay đến cuối năm 2011 là 125 triệu Euro, trong đó có hơn 74 triệu đã bị coi là NPL, nghĩa là tỷ lệ nợ xấu xấp xỉ 60%). Với cơ cấu tài sản như vậy có thể nói ngân hàng này thực chất chỉ là một quĩ đầu tư cỡ trung bình (chỉ một quĩ con của Vinacapital cũng có thể có NAV lớn hơn 350 triệu Euro). Tôi cho rằng đa số tài sản là phần rơi rớt lại từ thời Comecon, trong đó Cu ba có một số nợ xấu khá lớn.

Rất tiếc website của MIB không cung cấp báo cáo tài chính những năm ông Bình còn làm việc ở đó. Nhưng không khó để đoán hoạt động của MIB lúc đó cũng không khác hiện tại là mấy, nghĩa là chủ yếu quản lý số tài sản do các nước Comecon cũ còn nợ. Hoạt động kinh doanh, đầu tư hầu như không đáng kể. Các board member của MIB có lẽ chỉ là đại điện cho các quốc gia thành viên, chủ yếu đi đòi nợ xấu từ thời XHCN. Nếu (thời ông Bình) có các cố gắng cải tổ lại MIB thành một ngân hàng đầu tư quốc tế như website NHNN cho biết thì các cố gắng đó dường như đã thất bại. Ông Bình được làm phó chủ tịch rồi quyền chủ tịch trong khi VN chỉ có 0.327% cổ phần cho thấy các nước khác không coi trọng vai trò (và lợi ích) của ngân hàng này.

Số cổ phần ít ỏi của VN chỉ tương được với 700 nghìn Euro vốn góp, hoặc hơn 1 triệu Euro vốn chủ sở hữu trên sổ sách. Phần lợi nhuận trên sổ sách năm 2011 mà phía VN được hưởng (1.65 triệu x 0.327%) chỉ hơn 5000 Euro mà chưa chắc sẽ được MIB chia (thực tế MIB có cash flow âm trong năm 2011 và không chia dividend). Như vậy đóng góp của ngân hàng này vào ngân sách VN (nếu có) thậm chí còn nhỏ hơn của một công ty nhỏ ở VN (5000 Euro chỉ tương đương gần 140 triệu VND). Nếu tôi là ông Bình tôi sẽ đề nghị chính phủ "biếu không" phần sở hữu của VN cho Cuba để giúp người bạn cũ này trong lúc khốn khó, vừa đỡ cứ vài năm lại phải cử một cán bộ sang Nga tham gia quản lý MIB (hiện tại đại diện cho VN trong board là bà Thinh Thi Hong). Với một ngân hàng như vậy tôi không nghĩ ông Bình học hỏi được nhiều kinh nghiệm và chuyên môn ngân hàng, nhất là chuyên môn về ngân hàng trung ương, kể cả khi đảm nhiệm chức vụ quyền chủ tịch. Đây là một mục trong CV mà đáng ra ông Bình không nên tự hào và đem ra PR cho mình như vậy.

Ông Bình xuất thân từ vụ Kinh tế đối ngoại (sau này chuyển thành vụ Quan hệ quốc tế phụ trách các hoạt động liên quan đến IMF/WB/ADB/MIB/MBES) nên có thể hiểu tại sao ông lại được lãnh đạo NHNN cử đi Nga tham gia vào board của MIB, một tổ chức đã từng được coi ngang hàng với IMF/WB/ADB. Ông Bình được cử đi Nga có lẽ còn vì ông đã từng học ở Nga. Xem tiểu sử chính thức thấy học vị của ông là Tiến sĩ khoa học, không thấy ghi ngành gì. Tiểu sử trên Wikipedia của ông ghi "Từ 1981-1986, ông Bình học Đại học Toán Kinh tế- Ứng dụng tại Trường Đại học Tổng hợp tại Liên Xô (cũ), tốt nghiệp tại đây với bằng tiến sĩ", không thấy tên trường. Lúc đầu tôi nghĩ ông học MGU (vẫn thường biết đến ở VN với cái tên Lomonosov) hoặc có thể Plekhanov ở Moscow, là hai trường rất lớn và danh giá của LX cũ. Tuy nhiên search Google thì có thông tin ông học trường Đại học tổng hợp Kishinhov (KGU) ở Mondovia, một nước cộng hoà nhỏ của LX. Thông tin ở đây cho biết ông học ngành toán ứng dụng, còn trên Wikipedia nói ông học toán kinh tế.

Một điểm chưa thực sự rõ là ông Bình tốt nghiệp KGU với bằng gì. Theo lý lịch chính thức thì ông có bằng tiến sĩ khoa học, đây là bằng docktor nayuk của LX cũ. Bằng này cao hơn bằng kandidate nayuk (phó tiến sĩ trước đây, bây giờ gọi chung là tiến sĩ). Những ai đã từng học ở LX cũ chắc chắn biến lấy bằng tiến sĩ khoa học rất khó, ngay cả sau này trong giai đoạn lộn xộn LX sụp đổ trong thập kỷ 1990. Nếu ông Bình lấy bằng tiến sĩ khoa học (doctor nayuk) vào năm 1986 mà ông chỉ bắt đầu sang KGU học từ năm 1981 có thể nói là một kỳ tích hiếm ai làm được. Tuy nhiên cả thông tin từ website của hội sinh viên KGU lẫn chính lời ông Bình ("Tôi đã gắn bó với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong toàn bộ quá trình công tác của mình kể từ khi tốt nghiệp đại học") cho thấy ông chỉ tốt nghiệp đại học tại KGU năm 1986. Vậy ông lấy bằng phó tiến sĩ, tiến sĩ năm nào, ở đâu, chuyên ngành gì?

Thống đốc Nguyễn Văn Bình sinh năm 1961 năm 1981 vào học ở KGU vậy từ năm 17 tuổi (tốt nghiệp lớp 10 hệ 10 năm hồi đó) đến năm 20 tuổi ông ở đâu, làm gì? Đi nghĩa vụ quân sự? Học một trường đại học/trung cấp nào đó ở VN hay một nước nào khác? Giai đoạn 1978-1981 VN có chiến tranh ở Campuchia và biên giới với Trung Quốc, thanh niên tốt nghiệp phổ thông thời đó nếu không thi đậu đại học phần lớn sẽ vào lính ra chiến trường. Tiểu sử của ông Bình không thấy nói đã từng phục vụ trong quân đội, mà cũng không học đại học trong 3 năm đó vậy ông Bình thuộc diện nào mà được miễn nghĩa vụ quân sự?

Trong bài phỏng vấn ông Bình nói có một giai đoạn ông làm trung gian giữa các lãnh đạo NHNN và phó thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng lúc đó kiêm nghiệm chức thống đốc. Thực ra ông Dũng về NHNN (mà nhiều người tin rằng là bước đệm để giúp đưa ông Lê Đức Thúy lên thống đốc) từ tháng 5/1998. Ông Bình đến tháng 11/1998 "được" điều sang làm phó giám đốc chi nhánh HN của NHNN. Như vậy thời gian ông Dũng và ông Bình cùng làm việc chỉ khoảng 5 tháng, chưa kể thời gian làm quen rồi bàn giao, nên không thể nói là nhiều. Một thành tích mà ông Bình khoe là đã tự "chắp bút" một phương án điều hành tỷ giá và phương án đó đã được ông Dũng chọn thay vì những phương án khác của các phòng ban nghiệp vụ (ông Bình làm chánh văn phòng không được coi là một phòng ban nghiệp vụ). Nhưng cũng chính vì "thành tích" này mà ông Bình bị một số lãnh đạo của NHNN lúc đó "tỏ ý không hài lòng", chẳng hiểu có phải vì thế mà ông Bình chỉ ngồi ở vị trí rất thân cận với ông Dũng trong vòng 5 tháng hay không.

Sau khi trở về từ ngân hàng MIB, ông Bình giữ chức vụ Chánh Thanh tra của NHNN từ 2005 đến 2008. Đây là giai đoạn hệ thống ngân hàng thương mại VN bùng nổ, tăng trưởng tín dụng có những năm xấp xỉ 50%. Trên thực tế một phần rất lớn tín dụng chảy vào chứng khoán và bất động sản tạo ra bong bóng trong những lĩnh vực này mà hiện nay trở thành vấn nạn nợ xấu mà ông Bình đang loay hoay tìm cách xử lý. Trên cương vị Chánh Thanh tra lúc đó, nếu ông Bình mạnh tay với các ngân hàng, sớm phát hiện ra những thủ thuật như tuồn tín dụng cho các công ty sân sau, sở hữu chéo giữa các ngân hàng, thổi giá trị tài sản thế chấp... thì có lẽ hệ thống ngân hàng đã không tệ như hiện tại. Tất nhiên việc phát hiện sai phạm trong giới ngân hàng không hề dễ, nhưng dù sao Chánh Thanh tra phải chịu trách nhiệm nếu đã để các ngân hàng qua mặt. Nhưng tôi biết đòi hỏi "chịu trách nhiệm" trong hệ thống chính trị VN là một điều khá xa xỉ.

Disclaimer: Tôi chưa từng gặp ông Nguyễn Văn Bình và không có bất kỳ quyền lợi hay interest nào ở NHNN, ngoại trừ mong muốn nó tốt lên. Tôi viết bài phân tích này với tư cách một người ngoài cuộc có chút chuyên môn (và cặp mắt "cú vọ" :-)) nhân đọc bài phỏng vấn có tính chất PR của ông Bình. Thông tin sử dụng trong bài này lấy từ các websites có links bên trên vào thời điểm tháng 2/2013.

Theo blog Giang Lê
Read more…

Phạm Duy, Thôi thế cũng xong.

07:00 |
Trần Như Xuyên

Như vậy là ông đã ra đi, sự ra đi này sẽ vinh quang biết bao nếu cuối đời ông không có những lầm lẫn, nhiều người vẫn lấy làm tiếc cho điều này.

Nói về nhạc của ông thì nó mênh mông quá, ảo diệu quá, rất nhiều người đã viết về ông với sự công nhận ông là cây đại thụ của nền âm nhạc Việt Nam, ta hãy chùng lòng xuống với:" đường về đêm đêm mưa rơi ướt bước chân em..." " ngày đó có em đi nhẹ vào đời..."

Phạm Duy: 'Tôi về Việt Nam là vì tôi yêu nước'.

Phạm Duy đã có biết bao nhiêu người viết về ông, trải dài một đời theo thăng trầm của đất nước, ông đã chứng kiến lịch sử, sự đổi thay cuộc đời bằng trái tim của người nghệ sĩ, như ông viết:" khóc cười theo vận nước nổi trôi" Ông sống nhiều, viết nhiều và nhạc của ông trải rộng trên ba miền đất nước, ngay từ hồi còn nhỏ, tôi đã nghêu ngao: chiều ơi lúc chiều về..., rồi lớn lên theo cùng với những giòng nhạc của ông, 1954 di cư vào Nam thì có Ngày trở Về, ngày trở về của người thương binh gặp lại mẹ già, gặp lại người yêu vừa bi tráng, vừa hào hùng, đau khổ thay, bản nhạc này được ông làm tựa đề cho một chương trình nhạc của ông khi xin về sống Việt Nam. Ngày trở về lê lết của một kẻ ăn mày, ăn xin, như một lời xin lỗi, vâng ,hôm nay người lầm đường lạc lối đã trở về, xin tạ tội với mọi người, đến nỗi gì mà phải quỵ lụy như thế, vậy ra trong những nét nhạc thanh thoát của ông, những rung động tuyệt vời đó là sự bao phủ cho một đầu óc ươn hèn, một cái điều bình thường mà người có chút liêm sỉ không thể làm được.

Ngày ông trở về Việt Nam, nhiều người đã lý giải nguyên do một cách khác nhau, người ta cho vì bài thơ Về đi thôi của Lưu trọng Văn, con của nhà Lưu trọng Lư : về thôi, về thôi, làm gì có trăm năm mà đợi làm gì có kiếp sau mà chờ, người thì bảo do Chế lan Viên chiêu dụ, người dễ dãi thì bảo về để kiếm tiền, người thì bảo về để kiếm vợ(do cái tính lăng nhăng của ông), nhưng theo tôi, nguyên do thúc đẩy ông trở về VN là bởi sự ẩn ức, khi Cộng sản dần dần cho hát lại nhạc của nhiều người sáng tác ở miền Nam trước 1975, ngay cả người có nhạc ca tụng người lính của Quân lực VNCH như Trần thiện Thanh thì nhạc của Phạm Duy vẫn tuyệt đối cấm, không một bài nào được trình diễn dù là những bản nhạc ca tụng thời ông tham gia kháng chiến, sự mong muốn trở về càng mãnh liệt hơn khi ông nhận được cuốn băng, cuốn băng chỉ là một cuộc phỏng vấn một lão bà có con được gọi là liệt sĩ vì đã hy sinh trong cuộc chiến, khi người phỏng vấn hỏi cụ già này muốn nói gì nữa không thì bất chợt bà cất tiếng hát: ai có nghe tiếng hát hành quân xa, mà không nhớ thương người mẹ già...đây là bài hát Nhớ người ra đi, Phạm Duy làm trong thời còn tham gia kháng chiến. Khi nghe được cuốn băng này, PD đã thốt lên: bao nhiêu năm rồi, họ còn nhớ tôi như vậy sao?!

Như trên tôi nói rằng ông bị ần ức vì một gia tài nhạc đồ sộ như thế, những bài hát hay như thế mà lại chỉ được hát ở hải ngoại có vài triệu người, trong khi khối hơn 80 triệu thì hoàn toàn không được cất lời ca cùng ông, và 30 năm đã qua, những người ở VN thuôc lứa tuổi 30, 40 hầu như không biết, không nghe gì về Phạm Duy và ông đã bị chúng hạ gục. Nhưng một người đã thành danh như vậy, đến cuối đời rồi, cần gì phải bon chen, ông là sao Bắc Đẩu ai cũng biết, Bắc Đẩu thì luôn phải rực sáng chứ không thể biến mình thành lu mờ vì cái danh mà mình đã có.

Bây giờ ta xét tới tại sao VC cho Phạm Duy trờ về, người mà đã bỏ chúng ra đi, nhưng từ khi về thành cho tới 1975, ông không đá động gì tới họ, ông miệt mài sáng tác nhạc, quãng thời gian ông theo kháng chiến coi như một đoạn đời đã xong, một giòng nhạc đã sang trang.

Thế nhưng 1954 ông đã không nói gì về hơn một triệu người di cư lánh nạn CS, không nói gì về cuộc chém giết khốc liệt miền Bắc đem vào miền Nam, trừ bản nhạc độc nhất nói về Phạm phú Quốc thì 1975, sau khi phải bỏ chạy một lần nữa, ông đùng đùng thóa mạ bọn chúng, đây là những bản nhạc ông sáng tác sau khi qua được Mỹ:

Một ngày năm bốn cha lìa quê hương
lánh Bắc, vô Nam, cha muốn xa bạo quyền
................................................................
Một ngày bẩy lăm đứng ở cuối đường
loài quỷ dữ xua con ra đại dương
................................................................
Ở bên nhà em không còn đứng đợi chờ anh
Ở bên này anh căm thù lũ Cộng tàn hung

Ông cũng đã phổ nhạc một bài thơ có lời như sau:

Từ vượn lên người mất mấy triệu năm
Từ người xuống vượn mất bao nhiêu năm?
xin mời thế giới tới thăm
những trại tập trung núi rừng sâu thẳm
tù nhân ở truồng từng bầy đứng tắm
rệp muỗi ăn nằm hôi hám tối tăm
khoai sắn tranh dành, cúm, bắn, chém, băm
đánh đập tha hồ, chết quăng chuột gặm
Loài vượn này không nhanh mà chậm
khác vượn thời tiền sử xa xăm
chúng đói, chúng gầy như những cái tăm
và làm ra của cải quanh năm
xin mời thế giới tới thăm.

Với những bài nhạc như thế, chửi chúng như thế, sao VC vẫn cho ông ta về, và ông ta can đảm dám xin về, đáng lý sự căm thù càng phải chồng chất thêm chứ, suy ra, cả Nguyễn cao kỳ, Phạm Duy đều là công cụ cho chúng lợi dụng tuyên truyền, một mặt chúng được tiếng là xóa bỏ hận thù cho thế giới nhìn thấy, một mặt, chúng đánh phá Cộng Đồng Hải Ngoại, chia rẽ các tổ chức chống Cộng để các đoàn thể nghi kỵ lẫn nhau.

Nào phải chúng ưa gì Nguyễn cao Kỳ hay Phạm Duy, chẳng qua chúng ráng ngậm bồ hòn làm ngọt để đạt được mục đích nói trên. Kỳ hay PD có về thì có làm gì lợi cho bọn chúng đâu, hay chế độ đó đã qua thời kỳ quá độ để đi lên Chủ nghĩa bóc lột, qua thời kỳ chúng cần hồng hơn chuyên, cả cái đảng đó giờ chỉ nghĩ đến là chuyện vơ vét tiền cho chặt túi.

Có điều với một người sống nhiều như PD, ông ta phải có những nhận thức bắt buộc, thí dụ những bản nhạc ông làm có phải là do sống trong chế độ Tự Do ông mới có cơ hội để sáng tác, hẳn ông cũng biết những người bạn cùng thời với ông như Văn Cao, Đoàn Chuẩn Từ Linh... họ đã không thể còn làm được gì khi mà các tác phẩm đều bị chỉ đạo, phải có tính Đảng, tính Dân tộc.

Bây giờ, chúng ta nghe những lời trần tình của Phạm Duy nói lý do sự trở về của ông:

.... Sau 30 năm ở miền Bắc nước Việt, khi đất nước bị chia đôi, tôi phải di cư vào Nam; sau 24 năm ở Sài Gòn, khi quê hương đã thống nhất, tình hình còn căng thẳng, tôi phải qua sống tại Mỹ trong 30 năm, khi tôi đã 80 tuổi, tình hình trong nước đã ổn định, tôi muốn được trở về quê hương, sống nốt quãng đời còn lại.

.....với ý nghĩ chim bay về tổ, lá rụng về cội, cái khát khao - hay khắc khoải- cuối cùng của tôi là được trở về sống chết ở quê mình...

Tôi trở về vì tôi yêu nước...( không hiểu ông có biết câu: yêu nước là yêu XHCN không nhỉ ?! )

Nếu quả thực chỉ thuần túy là ao ước của chiếc lá muốn rụng về cội thì cũng được đi, cũng là những ao ước của nhiều người năm xưa, bỏ nước ra đi ở khoảng tuổi 30, nhưng trở về là khi không còn chế độ CS ở đó.

Tuy vậy, sự trở về cũng chẳng suông sẻ gì, một bài báo đăng trên tờ Đầu Tư, người viết tên Nguyễn Lưu đã viết như sau:

Dân tộc VN có tình lý: đánh kẻ chạy đi, không đánh kẻ chạy lại. Tuy nhiên " không đánh kẻ chạy lại" cần được hiểu thêm rằng : kẻ chạy lại là ai, và " không đánh " có nhất thiết đống nghĩa với việc xem người đó là thần tượng, là nhân vật tiêu biểu để đón rước trọng thể? Tôi muốn nói tới trường hợp của nhạc sĩ Phạm Duy, người mới được xưng tụng sau đêm nhạc Ngày Trở Về.

Một người nữa là nhà văn Chu Lai đã viết trong Tạp chí Thế Giới:

Một người từng bỏ kháng chiến theo Thực dân Pháp, khi Pháp rút lại theo Ngô Đình Diệm và khi Ngụy quyền sụp đổ lại chạy qua Mỹ. Và tại đó đã viết hàng loạt bài kêu gọi chống Cộng, với giọng điệu sặc mùi hiếu chiến, nay thấy VN vươn lên mạnh mẽ(!), lại xin trở về! hà cớ gì phải tung hô, xưng tụng đến thế?

Hai bài viết này không phải là tự phát, bắt nguồn từ sự ganh tức, các bài viết trên các tờ báo của CS phải có sự chỉ thị và được kiểm duyệt. Với sự còn mang đầy căm tức như vậy, liệu những điều họ hô hào " xóa bỏ hận thù " hay " khép lại dĩ vãng " ta có tin được không? Thật ra nhưng lời hô hoán trên cộng với nghị quyết 36 chỉ là những mồi chài để người Việt Hải ngoại đem tiền về đầu tư. " Các anh thấy nhé, Phó Tổng Thống của các anh là Nguyễn cao Kỳ, nhạc sĩ PD còn thong thả trở về thì các anh có gì phải lo ngại ". Phải, đừng có lo ngại gì hết, cứ mang tiền về, gây dựng được cơ ngơi xong, chỉ việc chụp cái mũ trốn thuế, thế là các anh bỏ của chạy lấy người, ta chỉ việc nhẹ nhàng tiếp thu thôi.

Một người nữa là Việt Quang viết có hơi buồn cười: "giá ông ấy ( PD ) đừng bỏ kháng chiến về thành thì giờ này biết đâu ông chẳng là Bộ Trưởng Văn Hóa ". Giả như PD còn ở lại đó thì thật là một mất mát to lớn cho Việt Nam, làm sao có được những bài hát rung động lòng người trong những ngày ông sống ở miền Nam, ở lại, chắc ông sẽ là một Tố Hữu trong âm nhạc, cùng lắm có được vài bản nhạc đại loại như " Cô gái vót chông " hay " Tiếng đàn Ta Lư ", ở lại, với khả năng phổ thơ tuyệt vời, ta sẽ khốn khổ nghe những bài hát như :" yêu biết mấy khi nghe con tập nói, tiếng đầu lòng con gọi Sít ta Lin "... Để mong được sự chiếu cố, mong lấy lòng nhà nước CS, Phạm Duy đã trơ tráo nói:" bọn ở Hải ngoại bảo tôi là người chống Cộng? chống gì, tôi chỉ có chống gậy thì có", hình như ông ta không cho là mình đã làm những bài nhạc tôi dẫn chứng ở trên, hoặc ông ta có thể nói với bọn VC là những bài nhạc đó là của một PD thời kỳ sai đường lạc lối, lúc " chưa đủ chín chắn", để chúng tin ông hơn, ông ta đã thốt lên những lời như thế này:" Ba mươi năm (1975 - 2005), một đêm dài, tỉnh dậy thấy mặt trời, tôi đã quên tất cả," quên gì, lạ thật, quên bao nhiêu năm tháng êm ấm ở miền Nam, nơi nuôi dưỡng ông để viết nhạc? quên cả những lời chửi bới bọn chúng hay sao! với một người dễ quên tất cả như vậy, có đáng tin không? biết đâu, một ngày nào đó, sau vài năm sống ở VN, ta lại nghe ông ta thốt lên: " mấy năm, một đêm dài, tỉnh dậy thấy mặt trời, nhưng mặt trời u ám quá, tôi lại quên tất cả". Ta có mở rộng vòng tay ra nữa không, có thể nhưng ngán ngẫm quá. Như vậy suy ra, Trịnh công Sơn, Văn Cao... hóa ra lại là những người có tư cách hơn Phạm Duy nhiều, họ đã chọn một lý tưởng cho họ, nhưng khi biết là điều họ chọn đã không đúng, họ cam chịu, không trâng tráo lật lọng, không thò lò muôn mặt. Để được VC cho về mạnh mẽ hơn, PD đã lải nhải:" bọn họ bảo là tôi ở phía họ, nay sao lại bỏ đi, tôi ở phía họ bao giờ?", với tư cách con người như vậy, ta cũng chẳng nên buồn, khi ông ta cầm cái hộ khẩu tên ông ta, chụp hình cười toe toét như có ý nói rằng ta đã tìm được chân lý, được nhà nước chính thức chấp nhận cho ta trở về rồi đấy, ôi mừng lắm thay.

Không những tráo trở mà còn ươn hèn, ông ta đã cúi đầu nghe những lời khuyên bảo như một người Công giáo thành khẩn lắng nghe sự khuyên bảo của ông Cha khi vừa xưng tội xong, ông vâng dạ với những người mà năm xưa khi ông theo kháng chiến, những người này chưa ra đời, những kẻ trong ban Văn hóa Thành phố chỉ bằng một phần ba tuổi đời của ông, cũng may, những người này không biết nhiều về ông, còn lớp cùng tuổi như ông, lớp người căm thù ông thì nay đã chết cả rồi, nếu không, chưa chắc ông đã được về. Ông ta không có được một chút đởm lược như Hoàng Cầm :" tôi bỏ đảng, họ không cho, bắt tôi phải làm đơn xin, tôi không xin, muốn bỏ là bỏ "

Tôi có coi cuốn DVD Ngày Trở Về của ông trình diễn tại Sài Gòn mà ông là người dẫn giải chương trình(MC), tôi thấy tội nghiệp cho ông khi cố kể lể những gì mình từng tham gia thời kháng chiến, nhất là những bản nhạc chẳng dính líu gì tới kháng chiến như bài Thuyền viễn xứ, bài hát được phổ từ thơ của Huyền Chi mà câu" sóng Đà Giang, thuyền qua xứ người", ông bảo rằng thuyền đã lầm lỡ đi ra xứ người( Hải ngoại), giờ quay trở về, tội nghiệp thay, thời của nhà thơ Huyền Chi thuyền có đi xa lắm thì cũng chỉ là đi sang làng bên hay tỉnh bên, thế đã là viễn xứ rồi, làm gì mà thuyền có thể đi qua xứ người như Mỹ. Cũng vậy, bài Quê nghèo của ông, ông rên rỉ rằng lời bài hát đó thực ra nó như thế này:"... bao giờ anh lấy được đồn Tây, hỡi anh" mà từ trước ta chỉ biết lời hát đó như sau:" bao giờ cho lúa được mùa luôn, lúa ơi", cho là lời hát nguyên thủy ông làm lúc theo kháng chiến thì nó là như vậy, nhưng tội nghiệp cho ông, cố gắng kể lể nhưng khi hát câu đó, Quang Linh vẫn hát: bao giờ cho lúa được mùa luôn, lúa ơi". Có xấp mình xuống, đọc hàng ngàn kinh ăn năn tội, ông cũng không thể làm sạch mình được, không sạch với bọn chúng, còn thì dơ bẩn vô cùng với những người trước giờ đã ngưỡng mộ ông. Trước đây, tôi cứ nghĩ rồi ông sẽ đi vào văn học sử, nhưng nay, có điều cần suy nghĩ lại, lịch sử sẽ phán xét, có nhiều người ở đây vẫn còn ngưỡng mộ nhạc của ông, đúng ra ông xứng đáng có tên trong văn học sử, Hữu Loan chỉ có một bải thơ mà còn được người đời nói nhiều như vậy huống chi cả một gia tài nhạc đồ sộ của ông, nhưng nay, người ta có chút ngại ngần khi muốn nêu tên ông.

Chắc chắn cái chết của ông, nhà nước CSVN không nói gì nhiều, ai lại vinh danh kẻ phản bội mình, cho về nước đã là cố gắng lắm rồi, còn ca tụng ư, không bao giờ, có lẽ ông cũng sẽ chẳng được ai xưng tụng mình, cả phía bên này lẫn phía bên kia vì sự tráo trở của ông. Từ ngày ông về, không biết có sáng tác được bản nào hay ho không, tôi chỉ được nghe hai bài ông viết toàn là nói về tình dục, bài thứ nhất tên " Thiên duyên tình mộng ", bài thứ nhì: Đêm hôm đó, cũng là nói về dục tính, thôi cũng được, còn hơn là ca tụng bác và đảng, có lẽ bọn chúng có căn dặn ông ta rồi, muốn làm nhạc gì thì làm nhưng có không được làm những bài nào ca tụng đảng, điều này nếu không dặn có thể PD sẽ làm, với bản chất con người như vậy thì bảo gì mà không được, nhưng chúng không cho ca ngợi vì thấy trơ trẽn quá, trước đây đã phản và chửi lại bọn chúng, giờ mà bốc thơm chẳng khác gì Judas ca ngợi Chúa.

Dù cay đắng cùng tận với Phạm Duy. tôi phải nhìn nhận ông là một thiên tài, cho nhiều năm sau này, chưa chắc đã có được một PD thứ hai, thôi thế cũng xong, nhưng tiếc quá, ông là cây cổ thụ mà tôi hằng ngưỡng phục, có thể về sau người ta vẫn hát nhạc của ông nhưng lời hát làm người ta bớt rung động đi nhiều, cũng tiếc quá, không biết ông có đọc cuốn:" Hồi ký của một thằng hèn" của Nhạc Sĩ Tô Hải không? nay ông chết rồi, giá ông sống thêm được ít nữa, biết đâu chúng ta lại chẳng có dịp đọc một cuốn Hồi ký nữa, đó là cuốn Hồi ký: Sự trở về của một thằng hèn. Duy Quang, con ông vừa mới chết, chết vì nghe theo ông về VN để lây bệnh viêm gan, một thứ bệnh rất phổ biến ở VN, nay tới ông, người ta bảo nghĩa tử là nghĩa tận, nhưng có những cái tận cần phải nói. Nghìn trùng xa cách, người đã đi rồi.

TRẦN NHƯ XUYÊN

Tác giả gửi trực tiếp đến VAOL

---oOo---

Phạm Duy: 'Tôi về đây là vì tôi yêu nước'

Nhạc sỹ Phạm Duy kể lại những biến cố trong cuộc đời mà ông đã trải qua, từ cuộc di cư từ Bắc vào Nam, các sự kiện Mùa Hè đỏ lửa, tháng 4/1975 và chuyến vượt biên lênh đênh qua Hoa Kỳ của ông.

Nhạc sỹ Phạm Duy

Trong phần II của cuộc trao đổi với BBC, chương trình Bấm Your World, ông cũng dành thời gian nói về quan điểm sống, quan niệm sáng tác, về kỷ niệm của nhiều ca khúc và đặc biệt nói về chuyến trở về Việt Nam sau hàng chục năm sống ở xứ người

BBC: Ông rời Việt Nam sang Mỹ năm 1975, ông có thể kể về toàn bộ chuyến đi và thời gian ông ở Mỹ được không?

Cũng vất vả lắm, nhưng cũng xong rồi. Đầu tiên tôi cũng không đi đâu được cả, bởi vì lúc đầu chỉ có 250.000 người Việt Nam ở rải rác khắp nơi, nhưng rồi nó lên đến 2 triệu người, thì tôi đi hát cho những người đó nghe.

BBC: Ông ở Philippines bao nhiêu lâu trước khi đến Mỹ?

Ở trong trại tị nạn hồi đó, đáng lý ra tôi phải đi ra ngoài ngay. Nhưng tại vì lúc đó tôi bị kẹt vì mấy người con còn ở lại. Thành ra tôi cũng nán lại. Nhưng hình như chỉ ở độ 3 hay 4 tháng thôi. Đi sang bên đó vào đầu tháng Năm, thì vào tháng Tám, tháng Chín thì tôi ra khỏi trại.

BBC: Và khi ông tới Mỹ thì có vấn đề gì không?

Không, không có vấn đề gì. Tôi không có coi cái gì là quan trọng cả. Tất cả giản dị lắm.

BBC: Khi đi Mỹ thì ông có tâm trạng như thế nào, ông có buồn không?

Đi Mỹ, phải đi Mỹ, thì vừa buồn, vừa vui. Buồn là vì phải bỏ nước ra đi, mất luôn cả mấy cái nhà nữa. Nhưng đi thì cũng là cơ hội để mình đi xem quốc tế, thế giới ra sao, lại vui.

BBC: Khi đi Mỹ, ông xuất bản cuốn “Musics of Vietnam” ra sao và việc biểu diễn âm nhạc của ông ở Mỹ thế nào?

Cái đó tôi viết lâu rồi, nhưng khi sang tới Mỹ, lúc đó mới kịp in ra. Cuốn “Musics of Vietnam” tôi viết từ lâu. Tôi đi gần như khắp nước Mỹ. Khổ nỗi là lúc đó tôi đã già rồi, đã trên 50 tuổi rồi, không đủ sức khỏe để đi nhiều thôi. Nhưng tôi sang bên đó, thì tôi đi hát chung với những người nhạc sỹ, ca sỹ Mỹ. Và đồng thời gia đình tôi cũng có mấy người đi hát với tôi. Hồi đó Khánh Ly cũng đi hát chung trong nhóm của chúng tôi. Chúng tôi vẫn đi luôn.

BBC: Thời gian ông đi Philippines, ông đã viết “Tị nạn ca”, “Nhục ca” đúng không?

Những bài đó là bài soạn ra trong lúc hoảng hốt, không nên nhắc đến. Tôi quên rồi.

BBC: Khi ông về lại Việt Nam, phản ứng của chính quyền thế nào, có vấn đề gì không?

Đi Mỹ, phải đi Mỹ, thì vừa buồn, vừa vui. Buồn là vì phải bỏ nước ra đi, mất luôn cả mấy cái nhà nữa. Nhưng đi thì cũng là cơ hội để mình đi xem quốc tế, thế giới ra sao, lại vui"
Rất tốt. Khi tôi về, đầu tiên, tôi xin lại, hồi tịch lại, tôi lại trở thành người Việt Nam ngay. Tôi không còn là người Mỹ nữa. Đó là một cái rất tốt. Đối với tôi và chính quyền ở đây không có vấn đề gì cả. Họ cũng thấy tất cả mọi sự trong cuộc gọi là giao tranh giữa hai miền như vậy, thì không có ai...

BBC: Còn phản ứng của mọi người nói chung ra sao?

Rất tốt. Là vì khi tổ chức một đêm “Ngày trở về” ở Hà Nội, thì tất cả các ca sỹ thượng thặng đều tham gia hết.

BBC: Cảm xúc của ông khi trình diễn “Phạm Duy – Ngày trở về” ở Nhà hát lớn như thế nào?

Tôi rất mừng vì bao nhiêu năm nay, tôi tưởng người Việt Nam không ai còn hát nhạc của tôi nữa. Tôi về, tôi thấy là họ vẫn hát nhạc của tôi như thường. Vui lắm. Tôi còn nhớ là lúc còn trẻ, tôi làm bài “Nhạc tuổi xanh”. Trong đó có một câu là “Đường ta, ta cứ đi”, thì bây giờ thì “Đường về, ta cứ về thôi.” Giản dị. Hồi đó tôi cũng thấy bình thường thôi. Tôi đã đứng hát trên sân khấu Nhà hát lớn cách đây gần 60 năm rồi. Bây giờ tôi trở lại, tôi cũng vui chứ. Chỉ có vấn đề là hát không có hay như ngày xưa thôi, dở lắm.

BBC: Được biết là chỉ có 10% bài hát của ông được cho phép ở Việt Nam, cái này đúng không?

Đúng rồi, nước nào người ta cũng có những quy định về vấn đề cho phép hay không cho phép. Nói cho đúng ra, sở dĩ tôi chỉ có 1/10 sáng tác của tôi thôi, là cũng giản dị là vì tôi không đứng ra xin phép. Nếu tôi xin phép, có thể họ cũng cho ra đấy. Nhưng ở đây phải xin phép mới được. Thế thôi, không có gì khó cả. Rất giản dị. Những người ngoài thấy là hơi bất bình là vì tại sao tôi nhiều bài như vậy mà chỉ cho tôi có 100 bài thôi. Nhưng khổ nhất vấn đề là tôi phải đứng ra tôi xin thêm thì người ta mới cho chứ. Không xin thì người ta không cho.

BBC: Ông có không băn khoăn gì về chuyện phép tắc đó không?

Tôi nói rằng tôi về đây, cứ hát một bài của tôi là cũng xong rồi. Đừng nói là được hát 100 bài. Tôi về đây không phải là tôi đi tìm danh vọng, hay tôi tìm đồng tiền kinh tế. Không phải. Tôi về đây là vì tôi yêu nước thôi. Mà tôi phải về vì người già nào cũng muốn chết ở quê hương của mình, thế thôi.

BBC: Ông có viết một số bài gọi là “Hương ca” nói về cảm xúc của ông khi về nước đúng không?

Đúng, những bài đó là tâm tình của tôi đấy. Lúc tôi về nước, tôi làm 10 bài hương ca. Nhưng mới xin phép được 5 bài thôi. Bởi vì tôi chỉ mới xin phép 5 bài thôi. Ví dụ như bài “Hương rừng Cà Mau”. Đây là bài thơ của một thi sỹ tên là SơnNam. Tôi làm một bài để xưng tụng những người đầu tiên đi khai phá miềnNam.

'Đang xin phép'

BBC: Trước đây ông có một trường ca rất nổi tiếng là “Mẹ Việt Nam,” tác phẩm này có được phép không?

“Mẹ Việt Nam” và “Trường ca Miền Nam” là hai bài đang xin phép. Cũng mới gửi đi xin phép, thành ra không thể nói gì hơn được nữa. Nếu mà được thì càng tốt, bởi vì những bài đó xưng tụng sự thống nhất của đất nước và con người.

BBC: Ngoài bài “Mẹ Việt Nam”, cũng có bài “Việt Nam, Việt Nam”, Việt Kiều ở Mỹ nghĩ gì về bài đó?

Người Việt Nam ở Mỹ, hay đi hải ngoại rồi, muốn nghĩ gì thì nghĩ, tôi không quan tâm. Bởi những người đó vẫn còn nuôi oán thù. Mà tôi chủ trương là sau 30 năm trời, thì phải đến các lúc mà có sự hòa hợp dân tộc. Thì phải thế thôi. Thế còn người nào cất tiếng lên chửi bới nhau chỉ vì đi về Việt Nam không thôi, thì tôi không nói chuyện với họ. Muốn nghĩ gì thì nghĩ. Khi tôi làm bài đó ra, tôi đâu có nghĩ đến trường hợp đến một ngày nào đó, có một người Việt Nam ở bên Mỹ lại hát bài đó. Tôi chỉ làm ra thôi. Cái tình cảm của tôi lúc đó vẫn là hòa hợp dân tộc.

BBC: Ông viết “Mẹ Việt Nam” năm 1965, tại sao lúc đó ông lại muốn viết bài này?

Đầu tiên nước Việt Nammình sinh ra là một nước theo chế độ mẫu hệ. Tức là xưng tụng người đàn bà nhiều hơn. Tôi cũng dựa vào cái đó để tôi nói về lịch sử ViệtNam. Lịch sử Việt Namthì cũng có những lúc chia rẽ nhau như thời Trịnh – Nguyễn phân tranh chẳng hạn. Thế nhưng cũng có thời họ thống nhất. Nước Việt Nam mình đã có thời kỳ chia cắt, thì phải có lúc thống nhất thôi.

BBC: Có người nói ông có công lớn với âm nhạc Việt Nam, ông nghĩ sao?

Không, không nói công với tội gì cả. Tôi sợ những cái đó. Ai khen tôi hay ai chê tôi, tôi đều sợ cả. Vì tôi làm việc cũng như người làm ruộng thôi. Làm ruộng thì phải cấy lúa, làm nhạc thì phải đánh đàn, giản dị thế thôi.

BBC: Có một số bài chưa nói tới như “Gánh lúa.”

Ô, bài ấy hay lắm. Bài ấy vui lắm. Bài ấy là bài cuối cùng của tôi làm trong khi còn ở Kháng chiến. Bài ấy tôi diễn tả một đoàn người nông dân đi gánh lúa để nuôi lính, nuôi quân. Hay lắm. Khi tôi hát bài dân ca, thì cũng có khi có những người hát thay tôi bài “Gánh lúa”. Nếu tôi không nhầm, thì tôi giữ được nhiều “versions” của những người này, người họ hát. Họ hát hay lắm, rất ViệtNam.

BBC: Rất nhiều ca sỹ đã trình bày các bài hát của ông, ông nghĩ gì về họ?

Nhiều lắm. Thái Thanh suốt đời hát nhạc của tôi. Còn Khánh Ly cũng hát. Ai cũng hát hết, những người nhạc sỹ già đó. Còn những người nhạc sỹ trẻ như Tấn Minh hay Đức Tuấn hay Mỹ Linh cũng đều hát nhạc của tôi hết. Tất nhiên là họ hát những bài đã được phép. Nước nào cũng có quy luật của nó chứ. Anh làm sao đi quá luật được.

BBC: Từ đầu 1960 so với Tết Mậu Thân, thì nhạc của ông có thay đổi không?

Cái đó thì phải để người khác người ta phê bình, chứ tôi không biết. Tôi chỉ biết làm thôi. Đại khái như bài nhạc của tôi làm hôm nay nó khác với bài trước như thế nào, thì tôi chịu chết (không thể biết được). Tôi không thể giải thích được. Người khác giải thích hộ tôi.

BBC: Nhưng có một số bài nói về thiên nhiên vào những năm 1950 và đầu 1960, như là bài ca “Sao” và “Chiều về trên sông”, ông có thể nói gì về quan hệ thiên nhiên và âm nhạc?

Lúc đó là lúc tôi bỏ qua trường hợp nhìn vào đất nước Việt Nam. Tôi muốn nhìn vào cuộc đời nhiều hơn. Tôi nói những câu chuyện về “Bài ca sao”, “Bài ca Trăng”, thì nó vượt ra khỏi nước Việt Nam rồi.

BBC: Từ năm 1954-1975 ở miền Nam, không khí âm nhạc thời đó như thế nào?

Tôi không nhớ được, quên rồi. Thời cuộc của Việt Nam thay đổi nhiều quá, thành ra tôi cũng quên mất.

BBC: Nhưng khi ông hát “Tâm phẫn ca”, sinh viên nghe thì họ thấy sao?

Cái đó thì họ phải thích chứ. Bởi vì cái đó cũng nói lên được lòng căm giận của họ cũng như của tôi, là vì chiến tranh kéo dài quá.

BBC: Về âm nhạc mà ông đã sáng tác sau khi về Việt Nam năm 2005, ông có thể nói về trường ca về “Minh họa Kiều”?

Về đây tôi mới sáng tác được toàn vẹn “Minh họa Kiều”. Vì “Minh họa Kiều” dài lắm. Nó dài phải đến hơn 2 tiếng đồng hồ mới hết. Tôi mới làm được 3 phần, về đây tôi làm nốt là phần thứ tư, về đây mới làm được, xong rồi. Tôi làm “Hương ca” là bản nhạc mới. Rồi tôi làm thêm những bài nhạc phổ thơ của thi sỹ Bích Khê. Đó cũng là những cái mới hết. Muốn biết nó ra sao thì phải mua đĩa để nghe thôi.

Trong “Hương ca” nó nói gì? Nó nói về tình yêu nước. Mà yêu nước của Việt Nam nay nó khác với yêu nước của ngày xưa rồi. Ngày xưa tôi làm bài “Tình hoài hương” là vào 1950, thì cái đẹp của đất nước nó khác cái đẹp của bây giờ. Ví dụ như là ngày xưa còn có những người đàn bà con gái răng đen, và đồng thời ăn mặc quần áo nâu. Bây giờ người con gái, anh đi về vùng quê anh coi, họ mặc hoàn toàn giống như những người mới, chứ không phải như người cũ nữa. Vậy thì tình cảm của tôi cũng phải khác đi.

BBC: Ông chọn một bài thơ để phổ nhạc như thế nào, ông có thể cho một vài ví dụ?

Tại sao tôi chọn bài thơ của ông Hoàng Cầm, là vì lúc đó ông Hoàng Cầm là nhà vô địch của những bài thơ kháng chiến. Tại sao tôi lại phổ thơ của ông Phạm Thiên Thư, là vì lúc đó, ông Phạm Thiên Thư đưa ra những loại nhạc lúc đó gọi là “Đạo ca”, là những cái mới hết. Ông Nguyễn Tất Nhiên là những bài ca ngộ nghĩnh, vui vẻ. Tôi chỉ có thể nói thế được thôi, còn đi vào chi tiết, không thể nói được.

BBC: Còn các bản “Tị nạn ca” thì sao?

“Tị nạn ca” là những bản nhạc nói chung về những vấn đề những năm không còn ở trong nước nữa. Đó là tị nạn chứ gì. Thế nhưng xong rồi thì tôi thấy là nó là những bản nhạc hơi “ảo ảnh quê hương”, chứ không phải là bản nhạc thật. Ngồi ở Bridgeway City mơ tưởng đến cánh đồng Việt Nam, thì nó hơi vô duyên quá (non-sense). Sau tôi quyết định tôi không nhắc đến nữa.

BBC: Giáo sư Trần Văn Khê sẽ viết về những tác phẩm nào của ông không?

Tôi không biết, chỉ biết là ông ấy đã viết được trên 100 trang rồi.

BBC: Ông là người rất nhạy về công nghệ, nhất là ứng dụng cho âm nhạc, ông đã sản xuất một CD đầu tiên ở Mỹ. Ông có thể nói gì về chuyện này?

Giản dị thôi, ngày xưa, tôi đi học ở trường Kỹ nghệ thực hành, thành ra những cái gì thuộc về vấn đề kỹ thuật, tôi thích lắm. Khi có được thời đại computer, năm 1982 là lúc computer ra đời, thì tôi vội vàng học ngay rồi. Từ đó tới nay, tôi áp dụng vào trong sáng tác nhạc, thì rất tốt. Nếu tôi không đi học được kỹ thuật, thì tôi không hiểu biết được kỹ thuật mới. Tôi nghĩ là tôi may mắn hơn những người khác là tôi thấy ngay được cái hay, cái ích lợi của computer và tôi dùng nó ngay.

BBC: Ông biết gì về phong trào “Hát cho đồng bào tôi nghe”? Âm nhạc của phong trào này khác gì với nhạc của ông?

Không, tôi không làm loại đó. Cái loại đó của người khác làm. Ông Tôn Thất Lập thì phải. Không phải tôi. Tôi không biết. Tôi không được nghe những bài đó. Tôi có biết là ông ấy có làm những bài hát là “Hát cho đồng bào nghe”, nhưng tôi không có ở trong tay để biết là bài đó ra sao. Tôi không dám phê bình.

'Sức mấy mà buồn'

BBC: Âm nhạc ở miền Nam Việt Nam ngày xưa có rất nhiều luồng, quan hệ giữa chúng ra sao?

Tôi cũng biết hết đấy, nói cho nó ngay ra mà nói là không biết thì không đúng, nhưng mà biết, nhưng nó không ảnh hưởng đến tôi gì cả. Tôi kính trọng những bài đó, thế thôi. Tôi không chê mà tôi cũng không khen.

BBC: Mục đích nhạc của ông những năm 1960 là gì?

Vẫn là con đường cũ tôi đi theo. Tức là vấn đề “khóc, cười theo mệnh nước”, lúc nào nước vui, thì tôi cười, thế còn lúc nào nước buồn thì tôi khóc.

BBC: Có sự kiện nào trong lịch sử làm cho ông buồn?

Không bao giờ tôi buồn cả, bởi vì tôi có bài hát gọi là “Sức mấy mà buồn”. Không bao giờ tôi buồn cả. Buồn làm gì, vô ích. Nếu có buồn, thì cũng chỉ buồn đại khái thôi, nói cho nó vui thôi chứ, không bao giờ tôi bị buồn cả.

BBC: Nhưng có một số bài buồn như là “Ngậm ngùi”?

“Ngậm ngùi” thì đâu có buồn. Đó là một bài hát an ủi. Ông ta làm thơ như vậy để khuyên mọi người trở về với đời sống bình thường thôi. Thì đó là an ủi nhau thôi chứ không có gì mà buồn.

BBC: Bài “Quê nghèo” chẳng hạn?

“Quê nghèo” thì thực sự là buồn. Đó là bởi vì chiến tranh. Tôi làm bài “Quê nghèo” đó là người ở quê là người dân nghèo, đói nhất ViệtNam, lại còn bị chiến tranh nữa. Thì tôi diễn tả đó thôi.

BBC:Bài “Quê nghèo” thì ông diễn tả điều gì?

“Tôi không xa kinh kỳ sáng chói”, có những ông già “Cày bừa thay trâu” thì khổ quá. Đó là một bài mà nhiều người Việt Nam rất cảm động, rất thích, là bởi vì tôi nói được những cái đó lên.

Theo BBC
Read more…

Ông Đỗ Mười đẻ ra "Lý Mỹ"

03:38 |
Minh Diện

Chiều 21-3-1978, Hội trường của trường đảng Nguyễn Ái Quốc II, Thủ Đức, như nghẹt thở. Mấy trăm cán bộ cơ quan trung ương và các tỉnh, thành phố phía Nam được triệu tập về đây từ hai, ba ngày trước. Ăn, ngủ ngay tại đây, nội bất xuất, ngoại bất nhập, công an giám sát chặt chẽ. Tôi là phóng viên báo Tiền Phong, Trung ương Đoàn trưng dụng làm “nhiệm vụ đặc biệt” cũng nằm trong số đó.

Nhiệm vụ đặc biệt gì không ai được biết. Qua vài thông tin rò rỉ, các “quân sư quạt mo” nhận định chuẩn bị đánh tư sản thương nghiệp, mật danh X-3, dưới sự chỉ huy của “Bàn tay sắt” Đỗ Mười và giờ G đã điểm! Khi đó, ông Đỗ Mười là Phó Thủ tướng kiêm nhiệm Trưởng ban Cải tạo Công thương nghiệp Xã hội chủ nghĩa, phụ trách vấn đề cải tạo Công thương nghiệp XHCN tại miền Nam.

ông Đỗ Mười

Hôm đó, ông Đỗ Mười mặc chiếc quần Kaki màu cà phê đậm, chiếc áo Sơ mi ngắn tay cùng màu, chân đi dép. Ông có khổ người khệnh khạng, mặt chữ “nãi”, trán ngắn đầy nếp nhăn, miệng cá trê, bờm tóc dựng trông rất dữ. Tôi đã được nghe nói nhiều về tính bốc đồng, nóng nảy của ông Đỗ Mười, hôm đó được giáp mặt, quả đúng vậy.

Đúng như mọi người dự đoán, chiến dịch X-5 đã bắt đầu.

Ông Đỗ Mười đọc Quyết định của Thủ tướng, đọc Chỉ thị 100 - CP, và triển khai kế hoạch cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh tại thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam.

Ông nói: “Từ sau giải phóng chúng ta đã thực hiện X-1, tập trung bọn ngụy quân, ngụy quyền học tập cải tạo. Đã thực hiện X-2 đánh bọn tư sản mại bản. Bây giờ chiến dịch X-3, quyết liệt nhất, nhằm tiêu diệt tận gốc rễ chủ nghĩa tư bản, tay sai đế quốc Mỹ…

“Đánh rắn phải đánh dập đầu, ta đã đánh dập đầu rồi, nhưng con rắn tư bản đánh dập đầu nó chưa chế, cái đuôi nó còn nguy hiểm hơn cái đầu. Không giần cho nát cái đuôi của nó, thì nó vẫn tác oai tác quái phá chúng ta. Vừa qua kẻ nào vơ vét mì chính (bột ngọt), vải vóc, đường, sữa đầu cơ trục lợi, rồi lại đổ tội cho nhà nước ta chuyển ra Bắc nên thị trường khan hiếm? Chính là bọn tư sản thương nghiệp! Kẻ nào tích trữ thóc gạo để dân ta đói? Chính là bọn đầu nậu lúa gạo. Tôi hỏi các đồng chí, kẻ nào cung cấp lương thực, thực phẩm cho tổ chức phản động trên Lâm Đồng chống phá cách mạng? Kẻ nào? Chính là bọn tư sản đấy! Bọn gian thương đầu cơ, phá hoại, bọn ngồi mát ăn bát vàng, rút rỉa máu xương đồng bào ta, ngăn cản con đường tiến lên xã hội chủ nghĩa của đảng ta ...”.

Ông Đỗ Mười nói say sưa, hùng hồn, quyết liệt. Mép ông sủi bọt. Tay ông vung vẩy. Mồ hôi trán đầm đìa.

Lúc đầu ông mặc quần áo nghiêm chỉnh, sau một hồi diễn thuyết khoa chân múa tay, ông bật nút áo sơ mi phanh ngực ra. Cuối cùng cởi phăng cái áo sơ mi ướt đẫm mồ hôi, trên người ông chỉ còn mỗi chiếc áo may ô ba lỗ.

Ông vẫn hăng nói: “Cho nên chúng ta phải róc thịt chúng ra. Bắt chúng lao động sản xuất, tự làm lấy mà ăn. Phải biết cày ruộng, cấy lúa, trồng ngô. Đất hoang còn nhiều, bắt chúng đổ mồ hôi sôi nước mắt kiếm miếng ăn ...”.

Bầu không khí ngột ngạt và kích động muốn nổ tung hội trường. Sức nóng từ Đỗ Mười truyền đến từng người. Tiếng vỗ tay rào rào, tiếng cười tiếng nói hả hê. Những gương mặt hừng hực khí thế "xung trận".

Xin đừng ở vị trí hôm nay phán xét những người trong cuộc ba mươi lăm năm trước, thời điểm đó tư duy của mọi người khác bây giờ, nhất là tư duy của những cán bộ đảng viên vốn tin tưởng tuyệt đối vào đường lối chính sách của đảng. Những người mà Đảng bảo sao cứ làm đúng phắc như vậy. Hãy bình tĩnh nhìn lại một cách trung thực, khách quan, để thấy một phần nỗi đau của mình, bạn bè mình, dân tộc mình, nỗi đau từ sự ấu trĩ, nóng vội, làm ào ào, đặt trái tim không đúng chỗ ngay từ khởi đầu!

Ông Đỗ Mười kết thúc buổi triển khai chiến dịch X-3, bằng mấy cái chém tay như có 'thượng phương bảo kiếm': “Anh nào, chị nào nhụt ít chí thì lui ra một bên. Kẻ nào tỏ ra nhân nhượng với bọn tư sản là phản bội giai cấp, không phải Bôn - sê- vích, có tội với đảng với dân, sẽ bị trừng trị!”.

Chúng tôi ra về với một tâm trạng nặng nề, mang theo lời cảnh tỉnh “Tuyệt đối bí mật”.

Nhưng hình như linh tính đã báo điềm chẳng lành cho thành phố Sài Gòn. Đó là cảm giác của tôi khi chạy xe máy từ cầu Công Lý lên cảng Bạch Đằng vòng qua Chợ Lớn. Người dân đổ ra đường nhiều hơn, vội vã, tất tưởi, gương mặt thất thần, nhiều tốp người tụm nhau bàn tán. Người ta nháo nhào đi mua từng cân muối ký gạo, như sắp chạy càn. Người dân thành phố vốn nhạy cảm và đó lại là cảm giác đúng: Thủ tướng nào thì chưa biết, nhưng trước hết phải lo thủ lấy miếng ăn!


Bảy giờ sáng hôm sau, ngày 23-3-1978, tất cả các cửa hàng kinh doanh to nhỏ, đủ mọi ngành nghề, ngóc ngách, đóng cửa, án binh bất động theo lệnh của Uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. Một bản thông báo ngắn gọn do ông Vũ Đình Liệu thay mặt UBND thành phố ký được ban hành ngay sau đó, xác nhận “Chiến dịch X-3”, bắt đầu ở thành phố mang tên Bác.

Tất cả các cơ sở kinh doanh, buôn bán, nhà hàng, cửa hàng, kho tàng, trung tâm dịch vụ bị niêm phong. Danh sách đã được lên từ trước. Họ làm bí mật lâu rồi. Như một trận đánh giặc đã được trinh sát, điều nghiên tỉ mỉ, chính xác. Các tổ công tác ập vào từng điểm bất ngờ, nhanh chóng niêm phong tài sản, khống chế mọi người trong gia đình nội bất xuất, ngoại bất nhập. Mỗi điểm niêm phong có tối thiểu một tổ ba người, không cùng cơ quan, không quen biết nhau. Họ là thanh niên xung phong, thanh niên công nhân các nhà máy, sinh viên các trường đại học, cả những thanh niên các phường được huy động vào chiến dịch.

Ngay buổi chiều hôm ấy một cuộc mít tinh tuần hành từ Nhà văn hóa thanh niên do Thành đoàn tổ chức. Hàng ngàn học sinh, sinh viên rầm rộ xuống đường, diễu hành khắp các phố chính Sài gòn, Chợ Lớn, hoan nghênh chính sách cải tạo công thương nghiệp của đảng, đả đảo bọn gian thương. Suốt đêm Câu lạc bộ thanh niên vang lên bài ca “Tình nguyện”, “Dậy mà đi”. Khi chống Mỹ sinh viên học sinh hát những bài hát ấy, giờ cũng hát những bài hát ấy để tăng bầu nhiệt huyết đánh tư sản!

Ngày 26-3-1978, cô công nhân Nguyễn Thị Bé B. ở nhà máy dệt Phong Phú được kết nạp đoàn vì từ chối nhận một món quà của một cơ sở kinh doanh mà cô canh giữ. Tiếp theo một trường hợp tương tự, anh thanh niên Vũ Ngọc Ch. ở nhà máy dệt Thắng Lợi.

Mấy ngày sau tiếng trống ở trường Trần Khai Nguyên quận 5, vang lên, như trống trận. Đó là nơi tập trung của 1.200 thanh niên học sinh người Hoa xuống đường ủng hộ chính sách cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh, người dẫn đầu là cô học sinh lớp 11, có gương mặt búp bê, mái tóc cắt ngằn: Lý Mỹ.

Lý Mỹ là con gái một gia đình kinh doanh buôn bán, có một cửa hàng ở đường Cách mạng Tháng Tám, quận 10. Khi X-3 nổ ra, Lý Mỹ mới 17 tuổi, được tổ chức đoàn tuyên truyền giáo dục lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, được kết nạp đoàn khóa 26-3, được nghe đích thân ông Đỗ Mười nói chuyện về chính sách cải tạo công thương nghiệp. Trái tim non trẻ của cô học sinh mười bảy tuổi như sôi sục bầu máu nóng đấu tranh giai cấp, cô đã chọn đối tượng để đấu tranh, đó chính là cha mẹ mình.

Lý Mỹ vận động thuyết phục cha mẹ kê khai tài sản, cha mẹ chần chừ, cô trực tiếp đứng ra kê khai. Cô theo dõi bố mẹ cất giấu vàng bạc, của cải, báo cho tổ kê khai moi móc ra bằng hết. Lý Mỹ phát biểu trên báo: “Tinh thần Pavel Corsaghin sáng chói trong trái tim tôi! Tôi không cần vàng bạc, của cải, cha mẹ tôi bóc lột của nhân dân. Từ hôm nay tôi từ bỏ giai cấp bóc lột, bước sang cuộc sống mới, hòa vào dòng người lao động vinh quang xây dựng xã hội chủ nghĩa” (Báo Tiền Phong số 40, 1978).

Khi cha mẹ vật vã than khóc, và dọa ra nước ngoài, Lý Mỹ tuyên bố nếu cha mẹ xuất cảnh, cô sẽ ở lại một mình, chấp nhận cuộc sống cô đơn để cống hiến cho lý tưởng cộng sản!

Không phải chỉ có một Lý Mỹ, mà hàng trăm “Lý Mỹ” như vậy. Những “Lý Mỹ” được sinh ra nóng hổi dưới lá cờ Đoàn thanh niên cộng sản Hổ Chí Minh.

Khi cải cách ruộng đất ở miền Bắc tôi là đứa trẻ sáu tuổi đi xem đấu tố như xem hội hè, khi cải tạo công thương nghiệp ở miền Nam, tôi ba mươi tuổi, là người trong cuộc. Trước con mắt tôi, cuộc cách mạng sau chỉ khác cuộc cách mạnh trước là không bắn giết, còn giống hệt nhau. Cũng con tố cha mẹ, vợ tố chồng, bạn bè tố nhau. Những cán bộ từng hoạt động bí mật trong chiến tranh, được những gia đình buôn bán, giàu có bao bọc, giờ quay ngoắt lại tịch thu tài sàn ân nhân của mình. Những tính từ bọn, đồng bọn, “tên tư sản”, “con buôn” thay danh từ ông, bà, anh, chị. Gần ba chục năm trước, người bị quy là địa chủ, phú nông xấu xa thế nào, thì 1978, người bị gọi là tư sản, con buôn xấu xa như vậy. Người ta đã phủ nhận một tầng lớp tiên tiến của xã hội, nhục mạ tầng lớp đó, đào hố ngăn cách giữa các tầng lớp nhân dân, và kéo lùi sự phát triển của đất nước, đó là một sự thật lịch sử cần ghi nhận.

Chiến dịch X-3 thành phố Hồ Chí Minh, đã đánh gục 28.787 nhà máy, xí nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh, hộ buôn bán.

Ông Nguyễn Văn Linh nói: “Khi tôi làm Trưởng ban cải tạo trung ương, tìm hiểu và dự kiến Sài Gòn, Chợ Lớn có khoảng 6.000 hộ kinh doanh buôn bán lớn. Khi anh Đỗ Mười thay tôi, anh ấy áp dụng theo quy chuẩn cuộc cải tạo tư sản Hà Nội từ năm 1955, nên con số mới phồng to lên như vậy” (Nguyễn Văn Linh, Những trăn trở trước đổi mới).

Ông Đỗ Mười đưa hàng ngàn hộ tiểu thương, trung lưu vào diện cải tạo, gộp luôn những hộ sản xuất vào đối tượng đó.

Ông Nguyễn Văn Linh nói: “Anh Mười không trao đổi với chúng tôi. Anh ấy có 'thượng phương bảo kiếm' trong tay, toàn quyền quyết định” (Nguyễn Văn Linh, trăn trở cuộc đổi mới).

Ông Đỗ Mười thay ông Nguyễn Văn Linh làm Trưởng ban cải tạo ngày 16-2-1978. Trong chiến dịch X-3, Đỗ Mười không sử dụng người của Nguyễn Văn Linh, mà đưa hầu hết cán bộ từ miến Bắc vào nắm giữ những vị trí quan trọng. Đồng thời ông bố trí cán bộ các ngành thương nghiệp, giao thông vận tải, công nghiệp nhẹ, kho hàng vào tiếp quản. Ông đóng đại bản doanh ở Thủ Đức, trực tiếp chỉ đạo, không tham khảo bất cứ ý kiến ai trong cơ quan lãnh đạo thành phố Hồ Chí Minh.

Kết quả X-3, với “công lao to lớn” của Đỗ Mười, thu được khoảng hơn 4.000 kg vàng, gần 1.200.000 đô la, và một khối lượng hàng hóa không thống kê hết. Từ chiếc xe hơi, TiVi, tủ lạnh, đến bịch bột giặt, quả trứng gà đều khê khai và tịch thu chất trong các kho, để rồi không cánh mà bay, hoặc biến thành phế thải.

X-3, cú đòn trời giáng cuối cùng, biến “Hòn ngọc Viễn Đông” thành “Thành phố chết”, đẩy thêm dòng người bỏ đất nước ra đi bất chấp hiểm nguy, bao nhiêu số phận đã rã rời trên biển sâu. Năm 2005, nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt nhìn nhận: “Trong các chiến dịch cải cách ruộng đất và cải tạo công thương nghiệp, nhiều nhân sĩ yêu nước, nhiều nhà kinh doanh có công với cách mạng đã không được coi như bạn nữa, gây những tổn thất lớn về chính trị và kinh tế".

Có lần chúng tôi hỏi nhà báo Trần Bạch Đằng: “Hình như trong 63 năm tham gia cách mạng và làm lãnh đạo, ông Đỗ Mười không đề lại một tác phẩm nào?”. Ông Trần Bạch Đằng chớp mắt nhếch cái miệng méo xẹo: “Cha ấy để lại cho đời tác phẩm cải tạo công thương nghiệp!”.

Ông Đỗ Mười sinh ngày 2-2-1917 tại Thanh Trì, Hà Nội. Ông làm rất nhiều chức vụ quan trọng, từng làm Tổng bí thư đảng cộng sản Việt Nam 1991-1997.

Tôi không muốn viết chân dung ông bởi chẳng có gì đáng viết, chỉ ghi lại vài dòng những người đồng chí của ông, nhận xét về ông.

Ông Đoàn Duy Thành, nguyên Phó Thủ tướng chính phủ kề: “Một lần anh Mười xuống Hải Phòng, tôi và anh Nguyễn Dần dẫn anh ấy đi thăm nhà máy đóng tàu. Đi ngang Quán Toan thấy cái nhà hai tầng, anh Mười hỏi: “Nhà ai đây?” tôi trả lời: “Dạ nhà anh Bút lái xe”, anh Mười nói: “Nếu tôi mà là bí thư, chủ tịch thành phố tôi sẽ tịch thu ngay cái nhà này làm nhà mẫu giáo!”.

Ông Đỗ Mười là người đố kỵ với Đại tướng Võ Nguyên Giáp, không biết vì ghen ghét tài năng hay nguyên nhân gì. Ông Đoàn Duy Thành kể: “Chuẩn bị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V, anh Mười gọi tôi tới, nêu vấn đề anh Văn năm 16 tuổi được thực dân Pháp cho sang Pháp học 6 tháng. Rồi anh Mười bảo, về nói cho đoàn đại biểu Hải Phòng biết, và những ai quen biết ở các đoàn khác cũng nói cho các đồng chí ấy biết. Tôi hỏi anh Trường Chinh, anh Trường Chinh bảo: “Võ Nguyên Giáp năm 1941-1942, kể cả việc làm con nuôi Martin trùm mật thám Đông Dương là chuyện bịa hết!” (Làm người là khó).

Ông Nguyễn Văn Linh trong một lần hội nghị ở T78 đã nói thẳng với ông Đỗ Mười: “Anh Mười tưởng rằng làm Uỷ viên Bộ chính trị là to lắm, muốn nói gì thì nói, muốn làm gì thì làm, muốn phê bình ai cũng được... Anh Mười đứng dậy nói: “Tôi nói đó là tinh thần Bôn-sê-vich” (Làm người là khó).

Ông Đoàn Duy Thành kể tiếp: “Có lần tôi hỏi anh Tô (Phạm Văn Đồng): “Còn Đỗ Mười thì sao?”. Anh Tô suy nghĩ hai ba phút rồi nói: “Chỉ có phá!”.

Nguyên Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói rất đúng với trường hợp cải tạo công thương nghiệp.
Năm nay ông Đỗ Mười hơn chín chục tuổi rồi. Nghe nói ông vẫn phải nuôi con mọn. Tôi không biết có đúng không, và nếu đúng, tương lai nó sẽ ra sao? Cầu trời, nó đừng như những “đứa con” sinh ra từ cuộc cải tạo công thương nghiệp 1978 như Lý Mỹ!

Minh Diện

Theo blog Bùi Văn Bồng
Read more…